phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các bảng, danh mục các hình vẽ, đồ thị, tài liệu tham khảo và phục lục; Luận văn bao gồm có 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng I. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cho vay đầu tƣ của Quỹ đầu tƣ phát triển địa phƣơng. 4 Chƣơng II. Thực trạng phát triển cho vay đầu tƣ tại Quỹ đầu tƣ phát triển và bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chƣơng III. Định hƣớng, giải pháp phát triển cho vay đầu tƣ tại Quỹ đầu tƣ phát triển và bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thừa Thiên Huế. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐẦU TƢ CỦA QUỸ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƢƠNG 1. Cơ sở lý luận về phát triển cho vay đầu tƣ của Quỹ đầu tƣ phát triển địa phƣơng 1.
Quỹ Đầu tƣ Đầu tƣ : Theo Tiến sĩ Phạm Anh Dũng cho rằng “đầu tư có thể được hiểu đồng nghĩa với “sự bỏ ra”. Từ đó, có thể coi “Đầu tư là sự bỏ ra những cái gì đó ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai” Còn hiện nay các nhà kinh tế thống nhất nhận định rằng: “Đầu tư là đem một khoản tiền đã tích lũy được (của cá nhân, của tập thể, của Nhà nước) để sử dụng vào một mục đích nhất định để sau đó trực tiếp hoặc gián tiếp thu lại một khoản tiền lớn hơn”. [8,14] ” Nhƣ vậy, có hiểu đầu tƣ là hoạt động bỏ ra nguồn lực hiện có ở hiện tại để nhằm đem lại nguồn lực lớn hơn trong tƣơng lai. Có 03 hình thức đầu tƣ nhƣ sau: - Đầu tƣ tài chính: Là loại đầu tƣ trong đó ngƣời có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hƣởng lãi suất định trƣớc (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành.
Đầu tƣ tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tƣ. Với sự hoạt động của hình thức đầu tƣ tài chính, vốn bỏ ra đầu tƣ đƣợc l- ƣu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhƣợng trái phiếu, cổ phiếu cho ngƣời khác). Điều đó khuyến khích ngƣời có tiền bỏ ra để đầu tƣ và để giảm rủi ro, họ có thể đầu tƣ nhiều nơi, mỗi nơi một ít tiền. Đây là một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tƣ phát triển.
6 - Đầu tƣ thƣơng mại: Là loại đầu tƣ trong đó ngƣời có tiền bỏ ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận cho chênh lệch giá khi mua và khi bán. Loại đầu tƣ này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thƣơng), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của ngƣời đầu tƣ trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa ngƣời bán với ngƣời đầu tƣ và ngƣời đầu tƣ với khách hàng của họ. Tuy nhiên, đầu tƣ thƣơng mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lƣu thông của cải vật chất do đầu tƣ phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tƣ phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền kinh tế nói chung. - Đầu tƣ phát triển: Khác hai hình thức đầu tƣ nêu trên, ĐTPT là đầu tƣ tài sản vật chất và sức lao động, trong đó ngƣời có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình, đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi ngƣời dân trong xã hội.
Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dƣỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thƣờng xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng để thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tƣ vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các loại tài sản khác. Tất cả các khoản đầu tƣ này đều đƣợc quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và các cơ quan thẩm quyền khác. Nhà đầu tƣ thƣờng hay có sự nhầm lẫn giữa quỹ đầu tƣ và công ty quản lý quỹ đầu tƣ.
Xét về mặt chức năng, công ty quản lý quỹ là đơn vị quản lý các Quỹ đầu tƣ, một công ty quản lý quỹ thƣờng có nhiều sản phẩm là các quỹ đầu tƣ khác nhau nên các Quỹ đầu tƣ có thể xem nhƣ sản phẩm dịch vụ mà công ty quản lý quỹ cung cấp cho nhà đầu tƣ. 7 Mỗi nhà đầu tƣ tham gia đầu tƣ vào Quỹ đầu tƣ sẽ sở hữu một phần trong tổng số vốn dùng để đầu tƣ vào danh mục đầu tƣ của Quỹ đầu tƣ. Việc nắm giữ này đƣợc thể hiện thông qua việc sở hữu các chứng chỉ Quỹ đầu tƣ. Danh mục đầu tƣ là danh mục các loại cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ hay các loại tài sản khác của Quỹ đầu tƣ; Tùy theo từng loại Quỹ đầu tƣ để hƣớng vào các nhà đầu tƣ khác nhau sẽ hình thành các Danh mục đầu tƣ khác nhau nhƣ hƣớng vào ngƣời đầu tƣ mạo hiểm sẽ có những danh mục đầu tƣ có rủi ro cao nhƣng mức sinh lời cao và ngƣợc lại đối với các nhà đầu tƣ muốn an toàn thì sẽ đầu tƣ vào Danh mục đầu tƣ có mức sinh lợi không cao nhƣ các trái phiếu hoặc cổ phiếu của các Công ty phát triển ổn định qua các năm.
Do đó, để thu hút các nhà đầu tƣ có “khẩu vị” về mức độ rủi ro và khả năng sinh lời khác nhau thì Công ty quản lý Quỹ thƣờng có nhiều Quỹ đầu tƣ khác nhau để khách hàng lựa chọn. Để thành lập Quỹ đầu tƣ, công ty quản lý quỹ phải phát hành chứng chỉ quỹ. Chứng chỉ quỹ cũng là một dạng cổ phiếu và có những đặc điểm của cổ phiếu nhƣng có những điểm giống và khác giữa chứng chỉ quỹ và cổ phiếu nhƣ sau: - Giống nhau: Xác nhận quyền sở hữu, hƣởng lợi nhuận trên vốn góp, đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán (tùy vào đặc điểm của quỹ). - Khác nhau: Nhà đầu tƣ không có quyền biểu quyết hay sở hữu công ty quản lý quỹ; mọi quyết định sẽ do công ty quản lý quỹ đảm trách thực hiện.
Tính hấp dẫn của chứng chỉ quỹ nằm ở độ an toàn và tiết kiệm thời gian hơn nhiều so với việc tự mua bán cổ phiếu vì nhà đầu tƣ đã có một bộ máy là công ty quản lý quỹ gồm các chuyên gia đầu tƣ hàng đầu thực hiện việc đầu tƣ cho họ bằng các nguyên tắc bài bản. Nhà đầu tƣ chỉ cần tập trung làm các công việc chuyên môn của mình và tận hƣởng thành quả từ việc nắm giữ chứng chỉ quỹ. Cho vay, cho vay đầu tƣ Cho vay: Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/2010/QH ngày 16/6/2010: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. 8 Nhƣ vậy, cho vay là một trong các hình thức của hoạt động cấp tín dụng trong ngân hàng, cũng nhƣ các Quỹ ĐTPTĐP.
Tín dụng là một giao dịch vốn liên quan đến bên cho vay (ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng) và bên đi vay (cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp). Bên cho vay sẽ chuyển giao quyền sử dụng vốn cho bên đi vay trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng. Khi đến hạn, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay theo thỏa thuận. Cho vay đầu tư là việc TCTD Nhà nƣớc cho các chủ đầu tƣ vay vốn để thực hiện đầu tƣ dự án.
Việc cho vay đầu tƣ đƣợc thực hiện theo trình tự các bƣớc gồm: tiếp nhận và thẩm định (bao gồm thẩm định năng lực chủ đầu tƣ và thẩm định dự án đầu tƣ, tài sản bảo đảm (nếu có)), quyết định cho vay, giải ngân, giám sát tín dụng, thu hồi nợ và xử lý rủi ro. Đối tƣợng cho vay đầu tƣ là các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc danh mục các dự án, chƣơng trình đƣợc Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ. Hiện nay, cho vay đầu tƣ của Chính phủ Việt Nam đƣợc thực hiện bởi Ngân hàng Phát triển Việt Nam (trƣớc đây còn gọi là Quỹ hỗ trợ Phát triển). Việc cho vay đầu tƣ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đƣợc xác định nhƣ sau: - Đối tƣợng cho vay: Là các dự án thuộc Danh mục đầu tƣ do Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ.
- Điều kiện cho vay: Khách hàng phải thuộc đối tƣợng cho vay và thỏa mãn các điều kiện sau: + Có đầy đủ năng lực pháp luật và thực hiện các thủ tục đầu tƣ theo quy định. + Dự án đầu tƣ đề nghị vay vốn đƣợc Ngân hàng Phát triển Việt Nam thẩm định, đánh giá là dự án có hiệu quả, có khả năng trả đƣợc nợ vay. + Có vốn chủ sở hữu tham gia trong quá trình thực hiện dự án tối thiểu 20% trên tổng mức đầu tƣ dự án. + Thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
+ Không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng tại thời điểm xem xét cho vay, giải ngân vốn vay. + Các điều kiện khác theo quy định.