MỞ ĐẦU TÓM TÁT - Ra đời từ những ngày đầu của mạng máy tính, trải qua nhiều nâng cấp và cải tiễn, thư điện tử ngày nay vẫn là một phương thức trao đồi thông tin chính thức được sử dụng rộng rãi bởi các cá nhân và tô chức trên toàn thế giới. Bên cạnh những lợi ích to lớn mà thư điện tử mang lại, thư điện tử cũng bị lạm dụng và sử dụng như một công cụ phục vụ cho các mục đích khác nhau trên môi trường mạng máy tính như gửi thư lừa đảo, thư nặc danh, thư quảng cáo, thư xin tài trợ. Những thư này người nhận không mong muốn nhận nên được gọi là thư rác hay SPAM. Đề phân biệt với thư rác, thuật ngữ HAM được sử dụng dé chỉ thư ma người nhận mong muốn nhận hay không phải thư rác.
Thu rác thường gây cảm giác khó chịu khi người sử dụng nhận được chúng hoặc thậm chí gây ra những ton hại nhất định cả về vật chất và tinh thần nếu người sử dụng trở thành mục tiêu của những kẻ lừa đảo. Chính vì vậy, nhiều giải pháp đã được phát triển dé phát hiện thư rác hiệu quả hơn. Trong đó, các mô hình học máy cũng như các mô hình học sâu đã được ứng dụng để phát hiện thư rác và đạt được độ chính xác cao. Tuy nhiên, các mô hình này phần lớn đều được huấn luyện trên bộ dữ liệu tiếng Anh nên chỉ có khả năng phát hiện được thư rác tiếng Anh, chưa có bộ dữ liệu thư rác tiếng Việt dé huấn luyện mô hình phát hiện thư rác tiếng Việt.
Luận văn này trình bày việc xây dựng bộ dữ liệu thư rác tiếng Việt và ứng dụng các mô hình học sâu gồm CNN, BiLSTM và PhoBert để huấn luyện mô hình phát hiện thư rác tiếng Việt. Kết quả so sánh cho thấy, các mô hình học sâu này đều cho kết quả phát hiện thư rác tiếng Việt với độ chính xác cao. Kết quả huấn luyện cho thấy độ chính xác của các mô hình lần lượt là CNN 88. Tw khóa - Phát hiện thu rac, CNN, BiLSTM, PhoBert.1 Giới thiệu về thư điện tử Thư điện tử thường được gửi từ người gửi đến một hoặc nhiều người nhận thông qua môi trường mạng máy tính.
Mỗi thư điện tử gồm có mục chủ đề và mục nội dung để người gửi có thể soạn thảo nội dung mong muốn trước khi gửi đi. Đây được xem như một phương thức trao đôi thông tin chính thức giữa các cá nhân và tổ chức trên toàn thé giới. Người sử dụng chỉ cần có một máy tính hay thiết bị điện thoại thông minh có kết nỗi mang máy tính là có thé sử dụng tài khoản thư điện tử dé gửi thư một cách nhanh chóng và tiện lợi. Bên cạnh những lợi ích to lớn mà thư điện tử mang lại, thư điện tử cũng bị lạm dụng như một công cụ để gửi thư cho người dùng phục vụ cho các mục đích thương mại cũng như các mục đích xấu như tấn công lừa đảo.
Đây là những thư mà người dùng không mong muốn nhận nên từ đó đã hình thành khái niệm thư rac hay SPAM. Dé phân biệt với thư rác, thuật ngữ HAM được sử dụng dé chỉ thư mà người nhận mong muôn nhận hay không phải thư rác.2 Khai niệm thư rác Thư rác hay SPAM là những thư được gửi hàng loạt đến một danh sách những người nhận phục vụ cho các mục đích khác nhau. Thư rác có thê được gửi từ các công ty tô chức dé quảng cáo cho các sản phâm dich vụ mới cũng như gửi các thông tin ưu đãi, khuyến mãi. Các loại thư rác khác là các loại thư lừa đảo, nặc danh và thường được gửi số lượng lớn đến người dùng thông qua mạng các máy tính bị nhiễm phần mềm độc hại và đã bị kẻ tấn công chiếm quyền điều khiển.
Các loại thư này người dùng không mong muôn nhận nên được gọi là thư rác.3 Tac hại của thư rác Thư rác đã trở thành một van nạn đối với tất cả cá nhân và tô chức trên toàn thé gidi. Theo số liệu thống kê gần đây được đăng tai bởi DataProt [3], một trang web đánh giá độc lập chuyên cung cấp thông tin chính xác về các sản phẩm an ninh mạng khác nhau thi gần 56,5% tổng số thư điện tử năm 2022 là thư rác mà chủ yếu là thư quảng cáo. Thư quảng cáo thường làm mắt thời gian và công sức của người nhận khi nhận được những thư nảy vì người nhận phải lướt qua thư nhận được trước khi xác định đây là thư rác. Theo số liệu thống kê và phân tích về thư rác có được bởi Kaspersky 7 Security Network [6], một nhân viên có thé mat khoảng hai ngày làm việc mỗi năm để đọc qua các loại thư rác mà họ nhận được.
Điều này gây lãng phí tài nguyên của các tô chức khi phải chi trả chi phí nhân viên mà không phục vụ cho công việc. Thêm vào đó, thư quảng cáo có thê làm người nhận mắt tập trung trong công việc bởi những nội dung trong thư quảng cáo thường hấp dẫn, gây cảm giác ấn tượng dé kích thích người dùng mua các sản phâm, dịch vụ. Bên cạnh thư quảng cáo, các loại thu xin tai trợ, thư nặc danh, thư lừa đảo cũng là các loại thư rác phổ biến mặc dù tần suất gửi có ít hơn so với thư quảng cáo. Thư xin tài trợ thường gây cảm giác phiền toái và làm mất thời gian của người nhận khi nhận được những thư rác này vì không phải cá nhân hay tổ chức nào cũng có đủ năng lực tài chính để tài trợ.
Đối với thư nặc danh, những thư này thường được gửi để xúc phạm nhân phẩm của một người nào đó hoặc gửi thư đòi nợ cho những người liên quan với người vay nợ khi người cho vay không liên hệ được với người vay nợ dé doi nợ. Thư nặc danh thường có nội dung khiếm nhã để xúc phạm người khác hoặc thậm chí dùng lời lẽ de dọa người nhận. Điều này cũng gây sự phiên toái, thậm chí gây cảm giác lo sợ cho những người nhận được thư rác này. Nghiêm trọng nhất là khi người nhận nhận được các loại thư lừa đảo.
Những thư lừa đảo thường dẫn dụ người nhận nhắn vào các đường dẫn liên kết trong thư dé lừa đánh cắp thông tin tài khoản thư điện tử, thông tin tài khoản ngân hàng, cài đặt phần mềm độc hại vào máy tính hoặc điện thoại của người nhận,. nhằm chiếm đoạt thông tin, dữ liệu, tài sản của người nhận. Nếu người nhận chăng may nhấn vào đường dẫn liên kết trong thư thì thông tin, dữ liệu, tài sản của người nhận có thê bị đánh cắp. Điều này gây ra những tốn hại nhất định về vật chất cũng như tinh thần cho người nhận.
Đặc biệt, nó có thể phá hoại uy tín và hình ảnh của một tô chức khi thông tin, dữ liệu của tổ chức đó bị lộ lọt ra ngoài. Từ đó nó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của t6 chức đó.4 Các giải pháp ngăn chặn thư rác Nhiều giải pháp khác nhau đã được áp dụng để bảo vệ người dùng khỏi thư rác. Các giải pháp ngăn chặn thư rác truyền thống thường được sử dụng là tạo các bộ lọc đánh giá dựa trên điểm dé phân loại thư rác, xác thực người gửi, kiểm tra danh sách thư điện tử đen, danh sách máy chủ gửi thư điện tử đen, nhận đánh giá thư từ người sử dụng, đảo tạo về nhận thức an ninh thông tin trong việc sử dụng thư điện tử cho người dùng,. Bắt đầu từ năm 2024, dé bảo vệ người dùng khỏi thu rác và chống lai các mỗi de doa phức tạp từ thư điện tử, Gmail [4] đã yêu cầu các tổ chức khi gửi thư vào Gmail phải sử dụng các giải pháp xác thực nguồn gốc thư được gửi đi, trong nội dung thư điện tử có tùy chọn cho phép người nhận từ chối nhận thư nếu muốn và đặc biệt phải duy trì tỷ lệ thư rác do người dùng báo cáo ở ngưỡng dưới 0.1% và tránh vượt quá 0.
Những yêu cầu này sẽ ảnh hưởng đến tất cả cá nhân và tô chức gửi thư đến người nhận có tài khoản thư điện tử trên Google trên toàn thế giới. Nếu không đáp ứng các yêu cầu này, thư gửi từ các cá nhân và tô chức sẽ bị Google từ chối nhận hoặc bị đánh dấu là thư rác. Yahoo và AOL cũng có chính sách tương tự như Google nhằm bảo vệ người dùng của họ khỏi thư rác và chống lại các mối de dọa phức tạp từ thư điện tử. Google, Yahoo và AOL là ba nhà cung cấp dịch vụ thư điện tử chiếm phan lớn thị phần thư điện tử của người sử dụng trên toàn thé giới.
Mặc dù nhiều giải pháp kỹ thuật đã được áp dụng đề ngăn chặn thư rác nhưng điều quan trọng nhất đề xác định một thư điện tử là thư rác hay không vẫn nằm ở nội dung của thư gửi đến người dùng. Hiện nay, các mô hình học máy cũng như các mô hình học sâu đã được ứng dụng trong việc phát hiện thu rác dựa trên nội dung cua thu gửi đi nhưng chủ yếu được huấn luyện dựa trên nội dung thư tiếng Anh, thiếu dữ liệu huấn luyện dựa trên thư tiếng Việt. Luận văn này sẽ trình bày việc xây dựng bộ dữ liệu thư rác tiếng Việt và ứng dụng các mô hình học sâu gồm CNN, BiLSTM va PhoBert dé huấn luyện mô hình phát hiện thu rác tiếng Việt. Bộ dữ liệu thư rác tiếng Việt sau khi được thu thập sẽ được tiền xử lý nhằm loại bỏ các từ, số, dấu câu, biểu tượng, đường dẫn liên kết, địa chỉ thư điện tử,.
mà không có nhiều ý nghĩa trong xử lý dé phát hiện thu rác tiếng Việt. Dữ liệu sau đó sẽ được biểu diễn bằng vector số trước khi đưa vào các mô hình học sâu phục vụ cho quá trình huấn luyện. Có nhiều phương pháp đề biéu diễn nội dung văn bản như thư điện tử sang biểu diễn vector số. Mô hình Word2Vec được chọn để biểu diễn vector số cho các mô hình học sâu CNN và BiLSTM để phát hiện thư rác tiếng Việt bởi vì Word2Vec có khả năng biểu diễn được ngữ cảnh của từ.
Bên cạnh đó, PhoBERT [9], một mô hình ngôn ngữ lớn dựa trên BERT đã được tiền huấn luyện cho ngôn ngữ tiếng Việt được sử dụng để so sánh 9 và đánh giá kết quả thử nghiệm với các mô hình CNN và BiLSTM. Kết quả so sánh cho thấy, các mô hình học sâu này đều cho kết quả phát hiện thư rác tiếng Việt với độ chính xác cao trên bộ dữ liệu thư rác tiếng Việt thu thập được.