Luận Án Tiến Sĩ Về Phát Hiện Vận Động Bất Thường (Ngã) Sử Dụng Cảm Biến Đeo

Luận án tiến sĩ trình bày phương pháp phát hiện vận động bất thường ngã bằng cảm biến đeo, góp phần nâng cao an toàn cho người cao tuổi.

Chuyên ngành

Kỹ thuật máy tính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

176
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Tính cấp thiết của đề tài

1.3. Mục tiêu của luận án

1.4. Các đóng góp của luận án

1.5. Bố cục của luận án

2. TỔNG QUAN VỀ BÀI TOÁN PHÁT HIỆN VẬN ĐỘNG BẤT THƯỜNG

2.1. Giới thiệu bài toán

2.2. Tại sao phải phát hiện VĐBT

2.3. Các nghiên cứu có liên quan

2.4. Theo công nghệ cảm biến

2.4.1. Tổng quan về các cảm biến sử dụng để nhận dạng hoạt động ở người

2.4.2. Các cảm biến sử dụng trong phát hiện VĐBT

2.5. Trích chọn đặc trưng

2.5.1. Trích chọn đặc trưng thủ công

2.5.2. Trích chọn đặc trưng tự động

2.6. Một số phương pháp phát hiện VĐBT

2.6.1. Phát hiện VĐBT sử dụng học máy

2.6.2. Phát hiện VĐBT sử dụng học máy kết hợp khai phá dữ liệu

2.6.3. Phát hiện VĐBT sử dụng huấn luyện có trọng số

2.7. Giới thiệu một số hệ thống phát hiện VĐBT (ngã) đã được thương mại hoá

2.8. Các tập dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu

2.9. Kết luận chương

3. PHÁT HIỆN VẬN ĐỘNG BẤT THƯỜNG DỰA TRÊN KẾT HỢP NHIỀU CẢM BIẾN ĐEO VÀ TRÍCH CHỌN ĐẶC TRƯNG THỦ CÔNG

3.1. Các cảm biến sử dụng phát hiện VĐBT

3.2. Sơ đồ tổng quát của hệ thống phát hiện VĐBT

3.3. Xử lý dữ liệu của cảm biến

3.4. Trích chọn các đặc trưng

3.4.1. Đặc trưng của cảm biến gia tốc

3.4.2. Đặc trưng của cảm biến con quay hồi chuyển

3.4.3. Đặc trưng của từ kế

3.5. Ứng dụng mô hình học máy cho bài toán phát hiện VĐBT

3.5.1. Kết hợp các đặc trưng cảm biến, thử nghiệm và đánh giá

3.5.2. Thu thập và gán nhãn dữ liệu

3.5.3. Phân đoạn và thiết lập các tham số cho mô hình học máy

3.5.4. Độ đo đánh giá và kết quả

3.5.5. Phát hiện VĐBT sử dụng hàm nhân phi tuyến hồi quy

3.5.6. Phương pháp huấn luyện

3.5.7. Phương pháp phát hiện

3.5.8. Tập dữ liệu thử nghiệm

3.5.9. Độ đo đánh giá và kết quả

3.6. Kết luận chương

4. PHÁT HIỆN VẬN ĐỘNG BẤT THƯỜNG BẰNG HỌC SÂU

4.1. Tập dữ liệu thử nghiệm, tiền xử lý dữ liệu và độ đo đánh giá

4.1.1. Các tập dữ liệu thử nghiệm

4.1.2. Tiền xử lý dữ liệu

4.2. Mô hình mạng học sâu nhân chập (CNN) phát hiện VĐBT

4.2.1. Mô hình CNN

4.2.2. Phát hiện VĐBT bằng mạng CNN

4.2.3. Nhân chập tạm thời và hợp nhất

4.2.4. Các kiến trúc sâu

4.2.5. Thiết lập các mô hình thử nghiệm

4.3. Mô hình mạng bộ nhớ dài - ngắn phát hiện VĐBT

4.3.1. Mô hình mạng bộ nhớ dài ngắn (LSTM)

4.3.2. Phát hiện VĐBT bằng LSTM

4.3.3. Thiết lập mô hình thử nghiệm

4.4. Mô hình kết hợp CNN-LSTM phát hiện VĐBT

4.4.1. Mô hình kết hợp CNN-LSTM

4.4.2. Phát hiện VĐBT bằng CNN-LSTM

4.4.3. Thành phần mạng nhân chập (CNN)

4.4.4. Thành phần mạng bộ nhớ dài ngắn (LSTM)

4.4.5. Lớp đầu ra

4.5. So sánh phương pháp đề xuất với các phương pháp khác

4.6. Kết hợp cảm biến đeo và đặc trưng khung xương nhận dạng hoạt động và phát hiện VĐBT của người

4.6.1. Mô hình đề xuất

4.6.2. Tiền xử lý dữ liệu

4.6.3. Mạng nhân chập theo thời gian (TCN)

4.6.4. Tập dữ liệu và phương pháp đánh giá mô hình

4.6.5. Kết quả thực nghiệm

4.7. Kết luận chương

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Hiện Ngã Bằng Cảm Biến Đeo

Phát hiện ngã là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong công nghệ cảm biến, đặc biệt là với sự phát triển của các thiết bị đeo thông minh. Các cảm biến đeo có khả năng theo dõi và phân tích các hoạt động của con người, từ đó phát hiện các vận động bất thường như ngã. Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi mà còn hỗ trợ trong việc chăm sóc sức khỏe cho những người có bệnh lý liên quan đến vận động.

1.1. Lý Do Cần Phát Hiện Ngã Trong Cuộc Sống Hằng Ngày

Ngã là một trong những nguyên nhân chính gây ra chấn thương nghiêm trọng, đặc biệt ở người cao tuổi. Việc phát hiện sớm các vận động bất thường giúp giảm thiểu rủi ro và đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thời gian nhận được sự trợ giúp sau khi ngã có ảnh hưởng lớn đến kết quả hồi phục của bệnh nhân.

1.2. Công Nghệ Cảm Biến Đeo Trong Phát Hiện Ngã

Cảm biến đeo như cảm biến gia tốc, cảm biến con quay hồi chuyển và cảm biến từ kế được sử dụng để thu thập dữ liệu về chuyển động của cơ thể. Những dữ liệu này được phân tích để phát hiện các dấu hiệu của ngã, từ đó đưa ra cảnh báo kịp thời cho người thân hoặc nhân viên y tế.

II. Thách Thức Trong Phát Hiện Ngã Bằng Cảm Biến Đeo

Mặc dù công nghệ cảm biến đeo đã phát triển mạnh mẽ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc phát hiện ngã một cách chính xác. Các vấn đề như độ chính xác của cảm biến, sự khác biệt trong hành vi của người dùng và môi trường xung quanh đều ảnh hưởng đến khả năng phát hiện ngã.

2.1. Độ Chính Xác Của Cảm Biến

Độ chính xác của cảm biến là yếu tố quyết định trong việc phát hiện ngã. Các cảm biến có thể bị ảnh hưởng bởi nhiễu tín hiệu hoặc không đủ độ nhạy để phát hiện các chuyển động nhỏ. Việc cải thiện độ chính xác của cảm biến là một trong những thách thức lớn nhất trong nghiên cứu này.

2.2. Sự Khác Biệt Trong Hành Vi Của Người Dùng

Mỗi người có một cách di chuyển và hành vi khác nhau, điều này tạo ra sự khó khăn trong việc xây dựng một mô hình phát hiện ngã chung cho tất cả mọi người. Các nghiên cứu cần phải xem xét đến sự đa dạng trong hành vi của người dùng để cải thiện độ chính xác của hệ thống.

III. Phương Pháp Phát Hiện Ngã Bằng Cảm Biến Đeo

Để phát hiện ngã hiệu quả, nhiều phương pháp đã được nghiên cứu và phát triển. Các phương pháp này bao gồm việc sử dụng học máy để phân tích dữ liệu từ cảm biến, từ đó nhận diện các mẫu hành vi liên quan đến ngã.

3.1. Sử Dụng Học Máy Trong Phát Hiện Ngã

Học máy cho phép xây dựng các mô hình phân loại dựa trên dữ liệu thu thập từ cảm biến. Các mô hình này có thể học từ các mẫu dữ liệu trước đó để phát hiện ngã trong thời gian thực, giúp cải thiện độ chính xác và độ tin cậy của hệ thống.

3.2. Kết Hợp Nhiều Cảm Biến Để Tăng Độ Chính Xác

Việc kết hợp dữ liệu từ nhiều loại cảm biến khác nhau có thể giúp cải thiện độ chính xác trong việc phát hiện ngã. Các cảm biến như cảm biến gia tốc và cảm biến con quay hồi chuyển có thể cung cấp thông tin bổ sung để nhận diện các chuyển động phức tạp hơn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Phát Hiện Ngã Bằng Cảm Biến Đeo

Phát hiện ngã bằng cảm biến đeo không chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày. Các hệ thống phát hiện ngã có thể được tích hợp vào các thiết bị y tế, giúp theo dõi sức khỏe của người cao tuổi và bệnh nhân.

4.1. Ứng Dụng Trong Chăm Sóc Người Cao Tuổi

Các thiết bị đeo có khả năng phát hiện ngã có thể giúp người cao tuổi sống độc lập hơn. Khi phát hiện ngã, hệ thống có thể tự động gửi cảnh báo đến người thân hoặc dịch vụ y tế, đảm bảo rằng họ nhận được sự trợ giúp kịp thời.

4.2. Ứng Dụng Trong Bệnh Viện Thông Minh

Trong môi trường bệnh viện, các cảm biến đeo có thể được sử dụng để theo dõi tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Việc phát hiện ngã kịp thời có thể giúp giảm thiểu các chấn thương và cải thiện quy trình chăm sóc bệnh nhân.

V. Kết Luận Về Phát Hiện Ngã Bằng Cảm Biến Đeo

Phát hiện ngã bằng cảm biến đeo là một lĩnh vực nghiên cứu đầy tiềm năng, với nhiều ứng dụng thực tiễn trong chăm sóc sức khỏe. Mặc dù còn nhiều thách thức cần vượt qua, nhưng với sự phát triển của công nghệ cảm biến và học máy, khả năng phát hiện ngã sẽ ngày càng chính xác và hiệu quả hơn.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Phát Hiện Ngã

Nghiên cứu trong lĩnh vực phát hiện ngã sẽ tiếp tục phát triển, với sự cải tiến trong công nghệ cảm biến và các phương pháp học máy. Điều này sẽ mở ra nhiều cơ hội mới trong việc chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ người cao tuổi.

5.2. Khuyến Nghị Cho Các Nghiên Cứu Tiếp Theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc cải thiện độ chính xác của các mô hình phát hiện ngã, cũng như nghiên cứu các phương pháp mới để xử lý dữ liệu từ cảm biến. Việc kết hợp các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo có thể mang lại những bước tiến lớn trong lĩnh vực này.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 cũng giới thiệu các phương pháp trích chọn đặc trưng cho bài toán phát hiện VĐBT, các độ đo đánh giá và những tập dữ liệu sử dụng cho các nghiên cứu ở những chương tiếp theo. Đề xuất phương pháp trích chọn đặc trưng thủ công kết hợp dữ liệu của các cảm biến quán tính ở mức đặc trưng cho bài toán phát hiện ngã, tiến hành thử nghiệm so sánh hiệu suất của hệ thống kết hợp nhiều cảm biến với hiệu suất trên từng cảm biến trên tập dữ liệu tự thu thập. Trong chương 2 cũng đề xuất giải pháp giúp giải quyết thách thức của việc thiếu dữ liệu huấn luyện đối với bài toán phát hiện VĐBT bằng phương pháp sử dụng hàm nhân phi tuyến hồi quy, tiến hành thử nghiệm và đánh giá kết quả. Nội dung chương này được trình bày dựa trên tổng hợp kết quả các công trình nghiên cứu số 3 và số 4 của NCS.

Trình bày các phương pháp trích chọn đặc trưng tự động để phát hiện VĐBT, các phương pháp bao gồm sử dụng mạng CNN và mạng LSTM. Đề xuất kết hợp mạng CNN và mạng LSTM, tiến hành thử nghiệm từng phương pháp sử dụng các tập dữ liệu giống nhau và công khai để so sánh hiệu quả của các phương pháp, từ đó giúp đánh giá hiệu quả của phương pháp đề xuất. Cũng trong chương này, NCS đề xuất mô hình sử dụng nhiều cảm biến không đồng nhất để nhận dạng các hoạt động phức tạp và phát hiện VĐBT bằng cách kết hợp dữ liệu khung xương và dữ liệu gia tốc ở cấp đặc trưng sử dụng các mạng nhân chập theo thời gian, 8 các thử nghiệm trên các tập dữ liệu công khai đã được tiến hành để đánh giá phương pháp đề xuất. Nội dung trình bày trong chương này được tổng hợp từ kết quả công trình nghiên cứu số 1 và số 2 của NCS.

Cuối cùng là một số kết luận về luận án. TỔNG QUAN VỀ BÀITOÁN PHÁT HIỆN VẬNĐỘNG BẤT THƯỜNG 1. Giới thiệu bài toán VĐBT là những vận động không có tính chủ ý, diễn ra khá nhanh và thường để lại hậu quả không mong muốn cho con người như bị chấn thương, va đập v. VĐBT như ngã có thể diễn ra trong quá trình con người đang thực hiện các hoạt động thường ngày, không có tính thường xuyên và không được dự báo trước.

Bài toán phát hiện VĐBT hiện đang thu hút được sự quan tâm của cộng đồng nghiên cứu vì nó có nhiều ứng dụng thực tế như trợ giúp chăm sóc người cao tuổi sống một mình tại nhà, cảnh báo sớm để giảm mức độ nghiêm trọng cho người có bệnh về vận động (ví dụ bệnh Parkinson), bệnh tâm thần và người cao tuổi v. Tuy nhiên, hiện nay những hệ thống phát hiện VĐBT có thể gặp khó khăn trong quá trình huấn luyện do dữ liệu về VĐBT khá khan hiếm, ví dụ như đối với hệ thống an ninh, an toàn và bảo mật, việc giám sát có thể dễ dàng nhận biết các hoạt động bình thường có tính thường xuyên xảy ra do tính sẵn có của các dữ liệu này trong huấn luyện, nhưng với các VĐBT, hệ thống khó có thể nhận biết được do các VĐBT là mới mẻ với hệ thống, hơn nữa, khi dữ liệu về VĐBT đó được sử dụng để huấn luyện, người dùng có thể thay đổi để tránh bị phát hiện. Sự hạn chế của dữ liệu huấn luyện dẫn đến hiệu suất của các hệ thống phát hiện VĐBT thường không cao, hệ thống có thể đưa ra những kết quả phát hiện không chính xác. Nếu xét theo khía cạnh cảm biến sử dụng, các nghiên cứu phát hiện VĐBT thường tiếp cận theo các phương pháp như: Phân tích hình ảnh hoạt động ở người bằng camera hay còn gọi thị giác máy, phân tích dữ liệu cảm biến từ các bộ cảm biến được tích hợp vào môi trường hoặc vật dụng và phân tích dữ liệu cảm biến từ các bộ cảm biến được đeo trên người (cảm biến đeo).

So sánh với cách tiếp cận thị giác máy, nếu sử dụng các cảm biến đeo có thể thực hiện theo dõi hành vi người dùng liên tục 10 trong một thời gian dài, các cảm biến đeo cũng không gây ra cảm giác mất quyền riêng tư cho người dùng, nó ít chịu tác động của môi trường như ánh sáng, vật cản v. Thế nhưng, việc sử dụng các cảm biến đeo cũng đặt ra các thách thức như: Dữ liệu thu thập từ nhiều cảm biến là không đồng nhất, khả năng lưu trữ, xử lý dữ liệu và năng lượng để cảm biến có thể hoạt động trong một thời gian dài còn hạn chế. Nếu xét theo khía cạnh xử lý dữ liệu, các nghiên cứu về phát hiện VĐBT tiếp cận theo ba hướng chính: Sử dụng các phương pháp học máy; sử dụng các phương pháp học máy kết hợp khai phá dữ liệu để phát hiện các ngoại lệ và sử dụng các phương pháp huấn luyện có trọng số (cost-sensitive learning). Tại sao phải phát hiện VĐBT Bài toán phát hiện VĐBT có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, an ninh - an toàn và bảo mật.

Trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, VĐBT thường gây ra những hậu quả đáng tiếc cho con người (ví dụ như ngã ở người cao tuổi, người mắc bệnh huyết áp, tim mạch v.) hay có thể là những biểu hiện ban đầu ở người có bệnh vệ vận động, ví dụ như bệnh Parkinson, bệnh lý khớp v. Do vậy, rất cần có một hệ thống phát hiện VĐBT giúp theo dõi, hỗ trợ người bệnh, người cao tuổi sống một mình, hay có thể phát hiện và cảnh báo sớm khi người cao tuổi bị ngã hoặc hỗ trợ chẩn đoán người mắc bệnh Parkinson, bệnh về vận động, bệnh lý khớp v. Còn đối với lĩnh vực an ninh - an toàn bảo mật, giả sử cần theo dõi hoạt động của tất cả mọi người trong một khu vực cần bảo vệ đặc biệt, người ta thường sử dụng các cảm biến (có thể gắn trên các thể định danh). Các cảm biến này giúp theo dõi các hoạt động của những người có trong khu vực đó, nếu có một hành động được coi là bất thường, hệ thống sẽ phát ra báo động cảnh báo về việc mất an ninh - an toàn cho các bộ phận có liên quan, điều này là vô cùng cần thiết.

Đã có nhiều nghiên cứu thành công trong việc nhận dạng hoạt động hằng ngày của con người như đi, đứng, ngồi, chạy, nhảy hay tập luyện thể thao v. Nhưng VĐBT có tính chất là vận động không thường xuyên xảy ra, thời gian diễn ra nhanh, không có tính chủ động, là vận động phức tạp, khó mô tả chính xác, ít lặp lại, những 11 điều này dẫn đến việc thu thập dữ liệu huấn luyện cho các hệ thống phát hiện VĐBT gặp nhiều khó khăn, làm cho hiệu suất phát hiện VĐBT của các hệ thống thường không cao khi triển khai trong thực tế. Đây cũng là thách thức lớn cần giải quyết đối với bài toán phát hiện VĐBT. Các nghiên cứu có liên quan 1.

Theo công nghệ cảm biến 1. Tổng quan về các cảm biến sử dụng để nhận dạng hoạt động ở người Trong lĩnh vực nhận dạng hoạt động ở người nói chung và phát hiện VĐBT nói riêng, cảm biến có vai trò như một trình điều khiển rất quan trọng, cảm biến giúp theo dõi chuyển động, môi trường và các thông số khác từ xa, dữ liệu từ cảm biến được truyền qua các giao tiếp thông dụng, đặc biệt là các giao tiếp không dây như Wifi, Bluetooth v. Các cảm biến đang ngày càng phổ biến trên các thiết bị và vật dụng mà con người sử dụng hằng ngày, những cải tiến vượt bậc trong công nghệ chế tạo cảm biến đã cho ra đời những cảm biến có kích thước nhỏ, tiêu thụ ít năng lượng, có thể hoạt động bền bỉ và ít chịu ảnh hưởng bởi môi trường. Quan trọng hơn, các cảm biến có thể giao tiếp không giây với các thiết bị khác và có giá thành ngày một rẻ nên chúng đã trở nên thông dụng, các cảm biến thường được tích hợp vào các thiết bị thông minh để thu thập thông tin, tính toán, hay tương tác liên tục khi di chuyển.

Các cảm biến hiện nay khá phù hợp để mang theo người (cảm biến đeo), có thể sử dụng trong một thời gian dài mà ít gây phiền toán cho người dùng, sử dụng các cảm biến đeo sẽ không còn bị giới hạn trong những căn phòng với các thiết bị được thiết lập sẵn, chính điều này góp phần phát triển các ứng dụng trong nhận dạng hoạt động và chăm sóc sức khoẻ. Đặc biệt ở nghiên cứu [84] chỉ sử dụng 2 Wii Remotes, một loại thiết bị có chi phí khá thấp (khoảng 600 nghìn VNĐ) thường được sử dụng trong các trò chơi tương tác, đeo ở thắt lưng và tay để nhận 12 dạng 14 hoạt động hằng ngày của người với độ chính xác (precision) và độ bao phủ (recall) hơn 90%. Nổi bật trong số các cảm biến đeo được sử dụng để nhận dạng hoạt động ở người nói chung và phát hiện VĐBT nói riêng là các cảm biến quán tính bao gồm gia tốc kế (cảm biến gia tốc), con quay hồi chuyển và từ kế (cảm biến từ trường). Các cảm biến quán tính có ưu điểm nhỏ gọn, dễ mang theo, dễ thương mại hóa, do đó nó thường được tích hợp trên đồng hồ, điện thoại, nhẫn, tai nghe, kính mắt, mặt dây chuyền v.v, là những vật dụng thường được con người mang theo trong một thời gian dài.

Tuy nhiên chúng cũng có nhược điểm là năng lượng tiêu thụ thường ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động của cảm biến trong trường hợp phải hoạt động liên tục và độ nhạy cảm với chuyển động cơ thể có thể dẫn đến nhận dạng sai hoạt động. Các cảm biến quán tính được thiết lập trên những vị trí khác nhau của cơ thể người, thường là cổ tay (có trong đồng hồ thông minh), cổ chân (có trong giày thông minh) và thắt lưng (có trong điện thoại thông minh). Cảm biến gia tốc thu nhận sự thay đổi vị trí của cơ thể và có thể được kết hợp với con quay hồi chuyển để đo các chuyển động quay có sự phục hồi tư thế [119]. Khi kết hợp cả hai cảm biến này có thể xác định chính xác một số hoạt động của con người như đi lên/xuống cầu thang, ngồi, đi bộ, chạy, nhảy [3].

Các nhận dạng này có ý nghĩa quan trọng để xây dựng các ứng dụng liên quan đến phục hồi chức năng, dáng đi, bệnh lý khớp, bệnh Parkinson và phát hiện ngã [94]. Ngoài ra, sự kết hợp giữa cảm biến gia tốc với cảm biến áp suất cũng có thể phát hiện chính xác ngã và hoạt động đi cầu thang [38].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ