Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Những vấn đề lý luận về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng và pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng. Thực trạng pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng ở Việt Nam.
Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng ở Việt Nam. 10 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động mua, bán nợ và pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng 1.
Lý luận về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng Một là, về khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ của tổ chức tín dụng Về khái niệm nợ của tổ chức tín dụng Ở Việt Nam hiện nay, còn ít công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm “nợ của tổ chức tín dụng”. Tuy nhiên, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm “nghĩa vụ”, “nghĩa vụ dân sự” hay “nghĩa vụ trả nợ”. Một số công trình tiêu biểu về vấn đề này có thể kể đến như: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2006) [112]; Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2014) [111]. Theo đó, nghĩa vụ được hiểu là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên kia.
Giáo trình Luật Hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học) của PGS. Ngô Huy Cương (2013) [26, tr. Ở công trình nghiên cứu này, tác giả không đưa ra khái niệm về nghĩa vụ mà chủ yếu tập trung luận bàn về khái niệm nghĩa vụ theo pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kì lịch sử trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật dân sự của một số quốc gia như Pháp, Nhật Bản. Từ đó, cho thấy những điểm phù hợp và những điểm còn chưa phù hợp trong các quan điểm pháp lý về khái niệm nghĩa vụ.
Sách chuyên khảo Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng do PGS. Lê Thị Thu Thủy chủ biên (2006) [106, tr. Theo đó, tác giả đã nhận định rằng, nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng tín dụng theo pháp luật của các nước cũng là một dạng của nghĩa vụ được qui định trong luật dân sự. Nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng tín dụng phát sinh trên cơ sở hoạt động cho vay của TCTD và khách hàng.
11 z Nếu như khái niệm nợ của tổ chức tín dụng ít được các công trình khoa học đề cập và bàn luận tới thì ngược lại, “nợ xấu” lại là khái niệm có khá nhiều công trình khoa học đề cập đến. Một số công trình tiêu biểu về vấn đề này có thể kể đến như: Luận án tiến sĩ kinh tế “Quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam” của Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) [75]. Theo tác giả, quan điểm nợ xấu phải được tiếp cận dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng. Có nghĩa là một khoản cho vay trong hạn, hoặc thậm chí mới cho vay, nhưng có dấu hiệu chứng tỏ rằng khả năng trả nợ của khoản vay là đáng nghi ngờ thì cũng có thể coi là một khoản nợ xấu.
Về khái niệm nợ xấu, công trình khoa học của PGS. Lê Thị Thu Thủy cũng cho rằng, về bản chất, nợ xấu là khoản nợ mà người vay không trả nợ đến hạn bao gồm cả trường hợp cố ý không trả nợ và mất khả năng trả nợ [107, tr. Như vậy, quan điểm này chỉ dựa vào dấu hiệu chung là quá hạn trả nợ của khách hàng mà không dựa vào thời gian quá hạn cụ thể. Tại một số công trình khoa học khác thì cũng đã đề cập đến khái niệm nợ xấu của tổ chức tín dụng như: bài viết Bàn thêm về xử lý nợ xấu của Phan Thị Thu Hà và Phạm Thị Bích Duyên (2016) [124]; Bàn về xử lý nợ xấu của Tôn Thanh Tâm (2017) [95]; Nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo qui định Việt Nam và thông lệ quốc tế của Đinh Thị Thanh Vân (2012) [118]; Xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại từ kinh nghiệm thế giới đến thực tiễn Việt Nam hiện nay của Nguyễn Đức Thành (2014) [98].
Ở các công trình nghiên cứu này, quan điểm của các tác giả đều cho rằng, nợ xấu được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể là quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ. Về đặc điểm và phân loại nợ của tổ chức tín dụng Về đặc điểm nợ của TCTD đến nay cũng ít công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, có một số công trình nghiên cứu đề cập đến đặc điểm của nợ xấu và phân loại nợ của TCTD. Tiêu biểu có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: Sách chuyên khảo của PGS.
Lê Thị Thu Thủy chủ biên, theo đó, tác giả chỉ ra ba đặc điểm của nợ xấu bao gồm: (i) Nợ xấu của TCTD chỉ phát sinh trong hoạt động cho vay của TCTD; (ii) Nợ xấu là những khoản nợ dưới chuẩn; (iii) Nợ xấu phải là những khoản nợ có bằng chứng nghi ngờ khả năng trả nợ của con nợ [107, tr. 12 z Công trình khoa học này cũng đã chỉ ra cách phân loại nợ theo thông lệ quốc tế. Theo đó, các khoản nợ của TCTD được phân loại vào 5 nhóm: Nợ đủ tiêu chuẩn; Nợ cần chú ý; Nợ dưới tiêu chuẩn; Nợ nghi ngờ; Nợ có khả năng mất vốn [107, tr. Ngoài ra, đề cập đến phân loại nợ của TCTD còn có một số công trình tiêu biểu như: bài viết Hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa rủi ro tín dụng của các tổ chức tín dụng của Phạm Thị Giang Thu, Nguyễn Ngọc Lương [136]; Nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo qui định Việt Nam và thông lệ quốc tế của Đinh Thị Thanh Vân [118].
Các công trình nghiên cứu này cũng đã chỉ ra 5 nhóm nợ theo qui định của pháp luật hiện hành cùng với những ưu điểm và hạn chế của cách phân loại này khi xem xét ở những góc độ khác nhau. Đồng thời, các tác giả cũng cho rằng, việc đưa ra các tiêu chí phân loại nếu không tính tới thực tiễn áp dụng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của đại đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ do các TCTD e ngại hoặc không thể giải ngân cho nhóm khách hàng này, ảnh hưởng đến chủ trương phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhà nước. Do vậy, ngoài việc sử dụng 2 phương pháp phân loại nợ như hiện nay Việt Nam có thể sử dụng các chỉ tiêu đánh giá tín nhiệm của các tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế đã sử dụng, nhưng cần tính đến đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, với số lượng các khách hàng có qui mô nhỏ và vừa chiếm tỉ lệ áp đảo. Tuy nhiên, bên cạnh đặc điểm về qui mô của doanh nghiệp, các công trình nghiên cứu này lại chưa chỉ rõ các đặc thù khác của nền kinh tế Việt Nam để lý giải cho việc áp dụng các chỉ tiêu đánh giá tín nhiệm là cần thiết cùng với 2 phương pháp phân loại nợ theo thông lệ quốc tế.
Tại một số công trình nghiên cứu khác như: “Pháp luật về hoạt động mua bán nợ của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam” [103]; “Hợp đồng mua bán nợ theo pháp luật Việt Nam” [29]. Đây là những công trình khoa học cũng đã đề cập tới đặc điểm và phân loại nợ của TCTD. Theo đó, các tác giả đồng tình với cách phân loại nợ của TCTD thành 5 nhóm nợ. Song, về đặc điểm nợ của TCTD, đặc biệt chú ý là ở công trình nghiên cứu “Hợp đồng mua bán nợ theo pháp luật Việt Nam” [29].
Trong đó, tác giả đã chỉ ra ba đặc trưng của nợ bao gồm: (i) Nợ là một mối quan hệ pháp lý; (ii) Nợ là một quan hệ đối nhân (quyền đối nhân); (iii) Nợ là một quan hệ về tài sản. Liên quan đến vấn đền này, tác giả Ngô Huy 13 z Cương đã khẳng định nghĩa vụ là một quan hệ đối nhân (quyền đối nhân), theo đó, quyền của trái chủ chỉ được thi hành đối với người thụ trái chứ không được thi hành trên bất kỳ tài sản cụ thể nào [26, tr. Như vậy, nợ mặc dù mang bản chất của nghĩa vụ nhưng nợ của TCTD có những đặc thù riêng vì khi cấp tín dụng cho khách hàng, TCTD thường yêu cầu khách hàng phải có biện pháp bảo đảm cho khoản vay như cầm cố, thế chấp. Và khi TCTD thực hiện quyền đòi nợ mà bên nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì TCTD có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Ở nước ngoài, cũng có một số công trình khoa học liên quan đến khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ của tổ chức tín dụng một cách gián tiếp có thể kể đến như: Fundamentals of contract law (Đại cương về pháp luật hợp đồng) của Corinne Renault Brahinsky [152, tr. Trong đó, tác giả khẳng định bản chất pháp lý của nợ là một nghĩa vụ tài sản của bên nợ đối với chủ nợ và đưa ra khái niệm về nghĩa vụ. Bên cạnh đó, một số bài viết như La cession de creances (dịch là: chuyển giao quyền đòi nợ) của Le monde politique [186]; Régime juridique du transfert de créances (dịch là: Chế độ pháp lý về chuyển giao quyền đòi nợ) của Andoh Ludovie [181]. Ở các công trình nghiên cứu này, quan điểm của các tác giả cũng cho rằng, nợ với bản chất là nghĩa vụ của chủ thể này với chủ thể khác.
Đồng thời, các tác giả cũng khẳng định, thực chất chuyển giao quyền đòi nợ là quá trình chuyển giao quyền tài sản của chủ thể có quyền cho một bên thứ ba theo thỏa thuận. Tiếp đến, còn có một số công trình khoa học khác cũng đã đề cập đến khái niệm nợ xấu và cách phân loại nợ hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế khi các quan điểm đó được đưa ra dựa trên cả hai yếu tố là thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng. Chẳng hạn như: bài viết “Non-Performing Loans của Richard [168, tr.