Pháp Luật Về Hoạt Động Mua Bán Nợ Của Tổ Chức Tín Dụng Tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu pháp luật về hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng ở việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

212
9
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động mua, bán nợ và pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

1.3. Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng ở Việt Nam

1.4. Những đề xuất trong các công trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

1.5. Những vấn đề các công trình nghiên cứu đã giải quyết được liên quan đến đề tài luận án và cần phải được kế thừa

1.6. Những vấn đề các công trình khoa học chưa giải quyết được liên quan đến đề tài luận án và cần được tiếp tục nghiên cứu

1.7. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.8. Phương pháp nghiên cứu

1.9. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA, BÁN NỢ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG MUA, BÁN NỢ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

2.1. Những vấn đề lý luận về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng. Khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ của tổ chức tín dụng

2.2. Khái niệm, đặc điểm hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

2.3. Vai trò của hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

2.4. Các nguyên tắc và phương thức mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

2.5. Những vấn đề lý luận về pháp luật hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

2.6. Khái niệm pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

2.7. Đặc điểm của pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng. Nội dung của pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng. Các yếu tố chi phối pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

2.8. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG MUA, BÁN NỢ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

3.1. Về chủ thể thực hiện hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

3.2. Về trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

3.3. Về hợp đồng mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

3.4. Hình thức của hợp đồng mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

3.5. Nội dung của hợp đồng mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

3.6. Về xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

3.7. Kết luận Chương 3

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG MUA, BÁN NỢ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

4.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

4.2. Phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, phát triển hệ thống ngân hàng

4.3. Đáp ứng được các tiêu chí hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo tính toàn diện, tính đồng bộ, tính thống nhất, tính phù hợp, tính khả thi của hệ thống pháp luật

4.4. Khắc phục được những bất cập của pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

4.5. Hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng nhằm hạn chế nợ xấu, đảm bảo sự an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng

4.6. Hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng nhằm tạo lập thị trường mua, bán nợ

4.7. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng ở Việt Nam

4.8. Về chủ thể tham gia hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

4.9. Về trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

4.10. Về hợp đồng mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

4.11. Về xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

4.12. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng ở Việt Nam

4.13. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng. Công khai, minh bạch thông tin về nợ xấu của hệ thống ngân hàng

4.14. Nâng cao chất lượng tuyển dụng, tăng cường và chú trọng đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng

4.15. Kết luận Chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp Luật Về Mua Bán Nợ Của Tổ Chức Tín Dụng

Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD), đặc biệt là các ngân hàng, đóng vai trò huyết mạch. Hoạt động thông suốt và lành mạnh của hệ thống này là tiền đề để luân chuyển, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính, kích thích tăng trưởng kinh tế bền vững. Tuy nhiên, nếu hoạt động không như mong đợi, hệ thống này có thể gây ra những tổn thất và hậu quả nặng nề. Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với các khoản nợ, đặc biệt là nợ xấu, là các khoản nợ không có khả năng thu hồi. Từ năm 2016, yêu cầu giải quyết nợ xấu của các TCTD không còn cấp bách như giai đoạn 2010-2015, nhưng vẫn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách kinh tế. Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2017 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 đã xác định rõ các mục tiêu như xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém, lành mạnh hóa tình hình tài chính, nâng cao năng lực quản trị, và xóa bỏ tình trạng đầu tư chéo.

1.1. Lịch Sử Hình Thành và Phát Triển Mua Bán Nợ tại Việt Nam

Hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng tại Việt Nam bắt đầu hình thành từ năm 1999 với Quyết định số 140/1999/QĐ–NHNN14 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Cơ chế mua bán nợ ngày càng được hoàn thiện, với các quy định cụ thể hơn về điều kiện và phương thức thực hiện. Điều này góp phần phát triển hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cơ cấu lại nợ, sử dụng nguồn vốn tín dụng an toàn, hiệu quả, và "khơi thông" dòng vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

1.2. Vai Trò Của Mua Bán Nợ Trong Xử Lý Nợ Xấu

Trong số các giải pháp cơ bản để xử lý nợ, mua bán nợ được xem là một trong những giải pháp phổ biến và mang lại hiệu quả. Do đó, việc hoàn thiện môi trường pháp lý kinh doanh và các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, trên thực tế triển khai vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, hệ thống các quy định hướng dẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, đồng bộ và còn mâu thuẫn, điều này làm ảnh hưởng đến tính khả thi của một số quy định khi triển khai trên thực tế.

II. Bất Cập Pháp Lý Về Mua Bán Nợ Thách Thức Cho TCTD

Hiện nay, hệ thống các quy định hướng dẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, đồng bộ và còn mâu thuẫn, điều này làm ảnh hưởng đến tính khả thi của một số quy định khi triển khai trên thực tế. Chẳng hạn như liên quan đến chủ thể thực hiện hoạt động mua bán nợ của TCTD thì hiện nay một số quy định về quy mô, năng lực tài chính và nguồn nhân lực ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động mua bán nợ của các chủ thể. Hay các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán nợ của TCTD hiện vẫn chưa đảm bảo được sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia giao dịch mua bán nợ dẫn đến tình trạng các bên không thực hiện được các quyền của mình, không khuyến khích được các chủ thể trong xã hội tham gia vào thị trường mua bán nợ khiến thị trường mua bán nợ của TCTD chưa thực sự phát triển.

2.1. Thiếu Quy Trình Thống Nhất Trong Mua Bán Nợ

Việc thiếu một quy trình thống nhất để thực hiện hoạt động mua bán nợ của TCTD cũng đang là một trong những hạn chế của pháp luật hiện hành. Điều này một phần xuất phát từ thực tiễn hiện nay là hoạt động mua bán nợ đang được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau nhưng mỗi chủ thể lại chịu sự quản lý, chi phối từ các chủ thể khác. Do vậy, văn bản quy phạm điều chỉnh hoạt động của các chủ thể này cũng có sự khác biệt.

2.2. Tính Tản Mạn Mâu Thuẫn Của Các Văn Bản Pháp Luật

Thực trạng nêu trên dẫn đến hệ quả các quy định của pháp luật về hoạt động mua bán nợ của TCTD ở Việt Nam nằm rải rác, tản mạn ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và đôi khi chứa đựng những nội dung mâu thuẫn, không thống nhất gây ra không ít những khó khăn, lúng túng trong quá trình thực hiện. Như vậy, có thể thấy pháp luật về hoạt động mua bán nợ của TCTD chưa thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để xử lý nợ xấu, giúp ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy sự phục hồi tăng trưởng.

2.3. Hạn Chế Về Chủ Thể Tham Gia Mua Bán Nợ

Liên quan đến chủ thể thực hiện hoạt động mua bán nợ của TCTD, một số quy định về quy mô, năng lực tài chính và nguồn nhân lực ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động mua bán nợ của các chủ thể. Điều này hạn chế sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân vào thị trường mua bán nợ.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Mua Bán Nợ Của TCTD

Để pháp luật về hoạt động mua bán nợ của TCTD thực sự là hành lang pháp lý quan trọng giúp phát triển thị trường mua bán nợ, cần ghi nhận một cách nhất quán nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào các giao dịch mua bán nợ. Đồng thời, cần hạn chế tối đa sự can thiệp từ phía Nhà nước vào hoạt động mua bán nợ của TCTD để từ đó đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Cần có những nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn trong hoạt động mua bán nợ của TCTD, đặt chúng trong mối quan hệ với các quy định khác của pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng, đồng thời đề ra những kiến giải cần thiết.

3.1. Xây Dựng Quy Trình Mua Bán Nợ Thống Nhất Minh Bạch

Cần xây dựng một quy trình mua bán nợ thống nhất, minh bạch, áp dụng cho tất cả các chủ thể tham gia thị trường. Quy trình này cần quy định rõ các bước thực hiện, hồ sơ cần thiết, thời gian xử lý, và trách nhiệm của các bên liên quan. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro pháp lý và tăng cường tính minh bạch của thị trường.

3.2. Sửa Đổi Bổ Sung Các Quy Định Pháp Luật Liên Quan

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động mua bán nợ của TCTD, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và phù hợp với thực tiễn. Cần tập trung vào các vấn đề như: điều kiện tham gia thị trường, quyền và nghĩa vụ của các bên, trình tự thủ tục mua bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm, và giải quyết tranh chấp.

3.3. Mở Rộng Phạm Vi Chủ Thể Tham Gia Mua Bán Nợ

Cần mở rộng phạm vi chủ thể tham gia thị trường mua bán nợ, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực tài chính và kinh nghiệm tham gia. Điều này giúp tăng tính cạnh tranh và hiệu quả của thị trường.

IV. Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hợp Đồng Mua Bán Nợ Của TCTD

Các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán nợ của TCTD hiện vẫn chưa đảm bảo được sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia giao dịch mua bán nợ dẫn đến tình trạng các bên không thực hiện được các quyền của mình, không khuyến khích được các chủ thể trong xã hội tham gia vào thị trường mua bán nợ khiến thị trường mua bán nợ của TCTD chưa thực sự phát triển. Cần đảm bảo sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia giao dịch mua bán nợ.

4.1. Đảm Bảo Quyền Và Nghĩa Vụ Của Các Bên Trong Hợp Đồng

Cần quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán nợ, đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa bên mua và bên bán. Điều này giúp tăng cường tính minh bạch và công bằng của giao dịch.

4.2. Quy Định Chi Tiết Về Nội Dung Hợp Đồng Mua Bán Nợ

Cần quy định chi tiết về nội dung của hợp đồng mua bán nợ, bao gồm các điều khoản về đối tượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn thực hiện, và trách nhiệm của các bên. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro tranh chấp và tăng cường tính khả thi của hợp đồng.

V. Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Trong Mua Bán Nợ Giải Pháp Nào

Việc xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động mua bán nợ của TCTD còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do các quy định pháp luật chưa rõ ràng, đồng bộ. Cần có các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn này, tạo điều kiện cho việc thu hồi nợ và giảm thiểu rủi ro cho các TCTD.

5.1. Hoàn Thiện Quy Định Về Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm

Cần hoàn thiện các quy định về xử lý tài sản bảo đảm, đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch và khả thi. Cần tập trung vào các vấn đề như: thủ tục xử lý tài sản bảo đảm, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, và cơ chế giải quyết tranh chấp.

5.2. Tăng Cường Hiệu Quả Thi Hành Án

Cần tăng cường hiệu quả thi hành án, đảm bảo các bản án, quyết định của tòa án về xử lý tài sản bảo đảm được thi hành kịp thời, đầy đủ. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của các TCTD và tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật.

VI. Nâng Cao Hiệu Quả Thi Hành Pháp Luật Về Mua Bán Nợ

Để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hoạt động mua bán nợ của TCTD, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, các TCTD và các chủ thể khác tham gia thị trường. Cần tập trung vào các giải pháp như: nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tăng cường công khai minh bạch thông tin, và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.

6.1. Nâng Cao Năng Lực Quản Lý Nhà Nước

Cần nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật về hoạt động mua bán nợ của TCTD. Điều này bao gồm việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra.

6.2. Tăng Cường Công Khai Minh Bạch Thông Tin

Cần tăng cường công khai minh bạch thông tin về nợ xấu của hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiếp cận thông tin và tham gia thị trường mua bán nợ. Điều này giúp tăng tính thanh khoản và hiệu quả của thị trường.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ pháp luật về hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Những vấn đề lý luận về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng và pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng. Thực trạng pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng ở Việt Nam.

Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng ở Việt Nam. 10 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động mua, bán nợ và pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng 1.

Lý luận về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng Một là, về khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ của tổ chức tín dụng Về khái niệm nợ của tổ chức tín dụng Ở Việt Nam hiện nay, còn ít công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm “nợ của tổ chức tín dụng”. Tuy nhiên, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm “nghĩa vụ”, “nghĩa vụ dân sự” hay “nghĩa vụ trả nợ”. Một số công trình tiêu biểu về vấn đề này có thể kể đến như: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2006) [112]; Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2014) [111]. Theo đó, nghĩa vụ được hiểu là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên kia.

Giáo trình Luật Hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học) của PGS. Ngô Huy Cương (2013) [26, tr. Ở công trình nghiên cứu này, tác giả không đưa ra khái niệm về nghĩa vụ mà chủ yếu tập trung luận bàn về khái niệm nghĩa vụ theo pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kì lịch sử trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật dân sự của một số quốc gia như Pháp, Nhật Bản. Từ đó, cho thấy những điểm phù hợp và những điểm còn chưa phù hợp trong các quan điểm pháp lý về khái niệm nghĩa vụ.

Sách chuyên khảo Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng do PGS. Lê Thị Thu Thủy chủ biên (2006) [106, tr. Theo đó, tác giả đã nhận định rằng, nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng tín dụng theo pháp luật của các nước cũng là một dạng của nghĩa vụ được qui định trong luật dân sự. Nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng tín dụng phát sinh trên cơ sở hoạt động cho vay của TCTD và khách hàng.

11 z Nếu như khái niệm nợ của tổ chức tín dụng ít được các công trình khoa học đề cập và bàn luận tới thì ngược lại, “nợ xấu” lại là khái niệm có khá nhiều công trình khoa học đề cập đến. Một số công trình tiêu biểu về vấn đề này có thể kể đến như: Luận án tiến sĩ kinh tế “Quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam” của Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) [75]. Theo tác giả, quan điểm nợ xấu phải được tiếp cận dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng. Có nghĩa là một khoản cho vay trong hạn, hoặc thậm chí mới cho vay, nhưng có dấu hiệu chứng tỏ rằng khả năng trả nợ của khoản vay là đáng nghi ngờ thì cũng có thể coi là một khoản nợ xấu.

Về khái niệm nợ xấu, công trình khoa học của PGS. Lê Thị Thu Thủy cũng cho rằng, về bản chất, nợ xấu là khoản nợ mà người vay không trả nợ đến hạn bao gồm cả trường hợp cố ý không trả nợ và mất khả năng trả nợ [107, tr. Như vậy, quan điểm này chỉ dựa vào dấu hiệu chung là quá hạn trả nợ của khách hàng mà không dựa vào thời gian quá hạn cụ thể. Tại một số công trình khoa học khác thì cũng đã đề cập đến khái niệm nợ xấu của tổ chức tín dụng như: bài viết Bàn thêm về xử lý nợ xấu của Phan Thị Thu Hà và Phạm Thị Bích Duyên (2016) [124]; Bàn về xử lý nợ xấu của Tôn Thanh Tâm (2017) [95]; Nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo qui định Việt Nam và thông lệ quốc tế của Đinh Thị Thanh Vân (2012) [118]; Xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại từ kinh nghiệm thế giới đến thực tiễn Việt Nam hiện nay của Nguyễn Đức Thành (2014) [98].

Ở các công trình nghiên cứu này, quan điểm của các tác giả đều cho rằng, nợ xấu được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể là quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ. Về đặc điểm và phân loại nợ của tổ chức tín dụng Về đặc điểm nợ của TCTD đến nay cũng ít công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, có một số công trình nghiên cứu đề cập đến đặc điểm của nợ xấu và phân loại nợ của TCTD. Tiêu biểu có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: Sách chuyên khảo của PGS.

Lê Thị Thu Thủy chủ biên, theo đó, tác giả chỉ ra ba đặc điểm của nợ xấu bao gồm: (i) Nợ xấu của TCTD chỉ phát sinh trong hoạt động cho vay của TCTD; (ii) Nợ xấu là những khoản nợ dưới chuẩn; (iii) Nợ xấu phải là những khoản nợ có bằng chứng nghi ngờ khả năng trả nợ của con nợ [107, tr. 12 z Công trình khoa học này cũng đã chỉ ra cách phân loại nợ theo thông lệ quốc tế. Theo đó, các khoản nợ của TCTD được phân loại vào 5 nhóm: Nợ đủ tiêu chuẩn; Nợ cần chú ý; Nợ dưới tiêu chuẩn; Nợ nghi ngờ; Nợ có khả năng mất vốn [107, tr. Ngoài ra, đề cập đến phân loại nợ của TCTD còn có một số công trình tiêu biểu như: bài viết Hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa rủi ro tín dụng của các tổ chức tín dụng của Phạm Thị Giang Thu, Nguyễn Ngọc Lương [136]; Nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo qui định Việt Nam và thông lệ quốc tế của Đinh Thị Thanh Vân [118].

Các công trình nghiên cứu này cũng đã chỉ ra 5 nhóm nợ theo qui định của pháp luật hiện hành cùng với những ưu điểm và hạn chế của cách phân loại này khi xem xét ở những góc độ khác nhau. Đồng thời, các tác giả cũng cho rằng, việc đưa ra các tiêu chí phân loại nếu không tính tới thực tiễn áp dụng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của đại đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ do các TCTD e ngại hoặc không thể giải ngân cho nhóm khách hàng này, ảnh hưởng đến chủ trương phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhà nước. Do vậy, ngoài việc sử dụng 2 phương pháp phân loại nợ như hiện nay Việt Nam có thể sử dụng các chỉ tiêu đánh giá tín nhiệm của các tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế đã sử dụng, nhưng cần tính đến đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, với số lượng các khách hàng có qui mô nhỏ và vừa chiếm tỉ lệ áp đảo. Tuy nhiên, bên cạnh đặc điểm về qui mô của doanh nghiệp, các công trình nghiên cứu này lại chưa chỉ rõ các đặc thù khác của nền kinh tế Việt Nam để lý giải cho việc áp dụng các chỉ tiêu đánh giá tín nhiệm là cần thiết cùng với 2 phương pháp phân loại nợ theo thông lệ quốc tế.

Tại một số công trình nghiên cứu khác như: “Pháp luật về hoạt động mua bán nợ của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam” [103]; “Hợp đồng mua bán nợ theo pháp luật Việt Nam” [29]. Đây là những công trình khoa học cũng đã đề cập tới đặc điểm và phân loại nợ của TCTD. Theo đó, các tác giả đồng tình với cách phân loại nợ của TCTD thành 5 nhóm nợ. Song, về đặc điểm nợ của TCTD, đặc biệt chú ý là ở công trình nghiên cứu “Hợp đồng mua bán nợ theo pháp luật Việt Nam” [29].

Trong đó, tác giả đã chỉ ra ba đặc trưng của nợ bao gồm: (i) Nợ là một mối quan hệ pháp lý; (ii) Nợ là một quan hệ đối nhân (quyền đối nhân); (iii) Nợ là một quan hệ về tài sản. Liên quan đến vấn đền này, tác giả Ngô Huy 13 z Cương đã khẳng định nghĩa vụ là một quan hệ đối nhân (quyền đối nhân), theo đó, quyền của trái chủ chỉ được thi hành đối với người thụ trái chứ không được thi hành trên bất kỳ tài sản cụ thể nào [26, tr. Như vậy, nợ mặc dù mang bản chất của nghĩa vụ nhưng nợ của TCTD có những đặc thù riêng vì khi cấp tín dụng cho khách hàng, TCTD thường yêu cầu khách hàng phải có biện pháp bảo đảm cho khoản vay như cầm cố, thế chấp. Và khi TCTD thực hiện quyền đòi nợ mà bên nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì TCTD có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

Ở nước ngoài, cũng có một số công trình khoa học liên quan đến khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ của tổ chức tín dụng một cách gián tiếp có thể kể đến như: Fundamentals of contract law (Đại cương về pháp luật hợp đồng) của Corinne Renault Brahinsky [152, tr. Trong đó, tác giả khẳng định bản chất pháp lý của nợ là một nghĩa vụ tài sản của bên nợ đối với chủ nợ và đưa ra khái niệm về nghĩa vụ. Bên cạnh đó, một số bài viết như La cession de creances (dịch là: chuyển giao quyền đòi nợ) của Le monde politique [186]; Régime juridique du transfert de créances (dịch là: Chế độ pháp lý về chuyển giao quyền đòi nợ) của Andoh Ludovie [181]. Ở các công trình nghiên cứu này, quan điểm của các tác giả cũng cho rằng, nợ với bản chất là nghĩa vụ của chủ thể này với chủ thể khác.

Đồng thời, các tác giả cũng khẳng định, thực chất chuyển giao quyền đòi nợ là quá trình chuyển giao quyền tài sản của chủ thể có quyền cho một bên thứ ba theo thỏa thuận. Tiếp đến, còn có một số công trình khoa học khác cũng đã đề cập đến khái niệm nợ xấu và cách phân loại nợ hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế khi các quan điểm đó được đưa ra dựa trên cả hai yếu tố là thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng. Chẳng hạn như: bài viết “Non-Performing Loans của Richard [168, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Pháp Luật Về Hoạt Động Mua Bán Nợ Của Tổ Chức Tín Dụng Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn tổng quan về các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động mua bán nợ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về khung pháp lý hiện hành mà còn nêu bật những lợi ích và thách thức mà các tổ chức tín dụng phải đối mặt khi tham gia vào hoạt động này. Đặc biệt, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ pháp luật để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý nợ.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ pháp luật về hoạt động mua bán nợ của vamc, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về hoạt động mua bán nợ từ góc độ pháp lý. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học nghị quyết số 422017qh14 về thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần đông nam á seabank sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thực tiễn xử lý nợ xấu trong ngành ngân hàng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Pháp luật về xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại và thực tiễn tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam techcombank, để có cái nhìn tổng quát hơn về các phương pháp xử lý nợ xấu hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các khía cạnh khác nhau của hoạt động mua bán nợ tại Việt Nam.