CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HÓA ĐƠN ĐIỆN TỬ VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÓA ĐƠN ĐIỆN TỬ TRONG QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM 1. Khái quát về hóa đơn điện tử 1. Khái niệm hóa đơn và hóa đơn điện tử 1. Khái niệm hóa đơn Hóa đơn là loại chứng từ thương mại thể hiện việc mua bán HH-DV giữa các chủ thể trong đời sống xã hội.
Ban đầu HĐ chỉ có ý nghĩa đơn giản là ghi nhận việc mua bán giữa hai bên và nếu có tranh chấp thì các bên sẽ tự thương lượng, giải quyết. Tiến trình phát triển xã hội, HĐ ngày càng được áp dụng rộng rãi và được XH chấp nhận, từ đó, Nhà nước tham dự vào việc quản lý HĐ để nắm rõ các giao dịch mua bán, hỗ trợ nhiệm vụ thu ngân sách đồng thời làm cơ sở để giải quyết tranh chấp và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại. Ngoài ra, Nhà nước công nhận tính pháp lý của HĐ trong việc chuyển nhượng HH và chứng nhận quyền sở hữu của người đang nắm giữ HH. Ở góc độ kê khai và quản lý thuế, HĐ là một chứng từ kế toán, một chứng từ thuế bởi DN ghi chép sổ sách kế toán và kê khai thuế hoàn toàn dựa trên chứng từ gốc là các HĐ mua vào, bán ra.
Sau đó, CQT căn cứ vào các HĐ này để tính thuế GTGT và thuế TNDN. Vậy HĐ được hiểu là chứng từ do người bán ghi nhận thông tin bán HH- DV theo quy định PL như1: Tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán và người mua; Tên, đơn vị tính, số lượng, đơn giá của HH-DV, số tiền chưa có thuế, thuế suất thuế GTGT, số tiền thuế GTGT; Tổng số tiền thanh toán, chữ ký người mua, chữ ký người bán, dấu người bán (nếu có) và ngày, tháng, năm lập HĐ. Khái niệm hóa đơn điện tử Trước đây, Việt Nam chỉ sử dụng thuần túy HĐ giấy do CQT đặt in hoặc do DN tự in, đặt in như: HĐ xuất khẩu; HĐ giá trị gia tăng; HĐ bán hàng; v. Vào 1 Chính phủ (2010), Nghị định số 51/2010/NĐ-CP về hóa đơn bán HH, cung ứng DV, ban hành ngày 14 tháng 5 năm 2010 (khoản 1, Điều 3 và khoản 3, Điều 4); 8 năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về hóa đơn bán HH, cung ứng DV và đây là lần đầu tiên CP quy định về HĐĐT được khuyến khích sử dụng bên cạnh các hình thức thể hiện khác của HĐ có nội dung phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Tuy Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014) đã đề cập, khuyến khích và thí điểm áp dụng HĐĐT, nhưng sau 10 năm thực hiện, kết quả đạt được vẫn còn thấp, do nhiều DN chưa quen ứng dụng CNTT trong việc sử dụng và quản lý HĐ, đa phần là những DN vừa, nhỏ, siêu nhỏ và các hộ KD cá thể. Nhằm góp phần thực hiện chủ trương phát triển Chính phủ điện tử2, ngày 12/9/2018 Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2018/NĐ-CP quy định về HĐĐT khi bán HH, cung cấp DV, trong đó giải thích: HĐĐT là HĐ thể hiện ở dạng dữ liệu ĐT do người bán lập, ghi nhận thông tin bán HH, cung cấp DV, ký số hoặc ký điện tử bằng các phương tiện ĐT, bao gồm cả trường hợp HĐ được khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu ĐT với CQT3. Sau đó, Luật Quản lý thuế 2019 quy định mọi tổ chức, cá nhân bán HH, cung cấp DV phải áp dụng HĐĐT thay cho HĐ giấy kể từ ngày 01/7/20224 và ngày 19/10/2020 Chính phủ ban hành Nghị định 123/2020/NĐ-CP để tổ chức thực hiện. Theo đó, HĐĐT được xác định là HĐ có mã hoặc không có mã của CQT được thể hiện ở dạng dữ liệu ĐT do người bán lập bằng phương tiện ĐT để ghi nhận thông tin bán HH, cung cấp DV theo quy định của PL về kế toán và thuế, bao gồm cả trường hợp HĐ được khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu ĐT với CQT.
HĐĐT bao gồm các loại: HĐ-GTGT; HĐ bán hàng; Tem ĐT; 2 Chính phủ (2015), Nghị quyết số 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử, ban hành ngày 14 tháng 10 năm 2015; 3 Chính phủ (2018), Nghị định số 119/2018/NĐ-CP về HĐĐT khi bán HH, cung cấp DV, ban hành ngày 12 tháng 9 năm 2018 (khoản 2, Điều 3); 4 Quốc hội (2019), Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, ban hành ngày 13 tháng 6 năm 2019 (khoản 2, Điều 151); 9 Vé ĐT; Thẻ ĐT; Phiếu thu ĐT; Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển ĐT hoặc các chứng từ ĐT có tên gọi khác. Trong đó: - HĐĐT có mã của CQT là HĐĐT được CQT cấp mã trước khi người bán HH, cung cấp DV gửi cho người mua. Mã của CQT trên HĐĐT bao gồm số giao dịch là một dãy số duy nhất do hệ thống của CQT tạo ra và một chuỗi ký tự được CQT mã hóa dựa trên thông tin của người bán lập trên HĐ5. - HĐĐT không có mã của CQT là HĐĐT do người bán HH, cung cấp DV gửi cho người mua không có mã của CQT 6, 7.
- Dữ liệu ĐT là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi, nhận được và hiển thị bởi các phương tiện ĐT như: máy tính, thiết bị viễn thông, đường truyền internet và các nguồn ĐT khác. Giá trị sử dụng của dữ liệu ĐT được xác định vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu ĐT, cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu ĐT, cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác8. Đặc điểm của hóa đơn điện tử a. Về hình thức thể hiện HĐĐT thể hiện ở dạng dữ liệu ĐT các thông tin bán HH, cung cấp DV thông qua thiết bị ĐT, đây là đặc điểm khác biệt rõ nét nhất giữa HĐĐT và HĐ giấy truyền thống đã và đang sử dụng, nên HĐĐT được lưu trữ trong các dụng cụ lưu trữ dữ liệu khá đa dạng như ổ cứng máy tính, USB, … , được truy xuất, thể hiện dưới dạng nguyên gốc ban đầu khi khởi tạo dữ liệu HĐĐT và được in ra dưới dạng một hóa đơn giấy thông thường.
Khi DN sử dụng HĐĐT cũng phải thực hiện tất cả các công đoạn như: lập, gởi, điều chỉnh, thu hồi, hủy, thay thế HĐĐT giống như HĐ giấy nhưng thực hiện trên phần mềm và tự chịu trách nhiệm bảo quản dữ liệu của chính mình. 5 Hình 1 (Phụ lục); 6 Quốc hội (2019), Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, ban hành ngày 13 tháng 6 năm 2019 (Điều 89) & Chính phủ (2020), Nghị định số 123/2020/NĐ-CP về hóa đơn, chứng từ, ban hành ngày 19 tháng 10 năm 2020 (khoản 2, Điều 3); 7 Hình 2; 3; 4; 5; 6 (Phụ lục); 8 Quốc hội (2005), Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11, ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005; 10 Khi có yêu cầu kiểm tra của cơ quan thuế thì DN có nghĩa vụ phải xuất trình những dữ liệu đó. Về hình thức lập hóa đơn - Khác với HĐ giấy thường được lập với ít nhất từ 2 đến 3 liên thì HĐĐT chỉ có 1 bản điện tử duy nhất mà không có các liên khác. HĐĐT đảm bảo nguyên tắc về số HĐ liên tục và đúng trình tự thời gian, đảm bảo mỗi HĐ được lập và sử dụng một lần tại thời điểm bán HH, cung cấp DV hoàn thành.
Điều này giúp khắc phục tình trạng người lập HĐ giấy để dành HĐ trống (lập nhảy số thứ tự hóa đơn) hoặc ngày lập hóa đơn giấy bị bỏ trống để điền vào sau, giúp cơ quan thuế quản lý chặt chẽ tình hình sử dụng HĐ của DN. - Lập HĐĐT không cần phân biệt giá trị từng lần bán HH-DV, điều này khác với HĐ giấy là khi bán HH-DV có giá trị từ 200.000 đồng trở lên thì mới lập HĐ kể cả khi người mua không yêu cầu, nếu dưới 200.000 đồng mỗi lần thì không nhất thiết lập HĐ giấy trừ trường hợp người mua yêu cầu lập và giao HĐ9. Về các dạng hóa đơn điện tử Xuất phát từ yêu cầu QLT thì HĐĐT chia thành 2 dạng: HĐĐT không có mã và HĐĐT có mã của CQT. DN sử dụng HĐĐT không có mã, hầu hết là những DN đáp ứng các điều kiện như: có cơ sở hạ tầng CNTT, có sử dụng hệ thống phần mềm HĐĐT hoặc có sử dụng DV cung cấp HĐĐT, có chữ ký số, đảm bảo việc lập, tra cứu, lưu trữ và truyền gởi dữ liệu HĐĐT đến người mua và đến CQT theo quy định.
Những DN thuộc các ngành: điện lực, xăng dầu, bưu chính viễn thông, vận tải hàng không, đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy, cung cấp nước sạch, tài chính tín dụng, bảo hiểm, y tế, kinh doanh siêu thị,. đều sử dụng HĐĐT không có mã của CQT. 9 Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 39/2014/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 51/2010/NĐ-CP và Nghị định 04/2014/NĐ-CP về hóa đơn bán HH, cung ứng DV, ban hành ngày 31 tháng 3 năm 2014 (điểm b, khoản 2, Điều 16) & Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 26/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2014/TT-BTC về hóa đơn bán HH, cung ứng DV, ban hành ngày 27 tháng 02 năm 2015 (điểm b, khoản 7, Điều 3); 11 Đối với HĐĐT có mã thì được CQT cấp mã và số xác thực bởi hệ thống cấp mã của CQT, làm tăng tính bảo mật, an toàn và thuận tiện cho công tác kiểm tra, đối chiếu của CQT. Do vậy, DN không cần phải lập báo cáo tình hình sử dụng HĐ bởi hệ thống cấp mã của CQT sẽ lưu trữ và bảo quản dữ liệu cho DN.
Cơ quan thuế và DN đều có thể kiểm tra trực tiếp HĐĐT trên hệ thống cấp mã xác thực hoặc thông qua website tra cứu. Những DN mới đi vào hoạt động, thuộc diện rủi ro cao về thuế hoặc được CQT lựa chọn thì phải tạo và phát hành HĐĐT có mã của CQT. Đặc biệt là các hộ, cá nhân KD bán lẻ hàng tiêu dùng hoặc cung cấp DV trực tiếp đến người tiêu dùng (kinh doanh nhà hàng, khách sạn, bán lẻ thuốc tân dược,.) thì phải thực hiện HĐĐT có mã của CQT được khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu ĐT với cơ quan thuế. Về việc hủy, tiêu hủy hóa đơn điện tử Hủy và tiêu hủy HĐĐT là hai việc hoàn toàn khác nhau, bởi hủy HĐĐT là làm cho HĐ đó không có giá trị sử dụng, còn tiêu hủy HĐĐT là làm cho HĐ đó không truy cập và tham chiếu được những thông tin chứa bên trong nó10.