CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI MUA BÁN HÓA ĐƠN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Tổng quan về hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng và pháp luật về kiểm soát hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng 1. Tổng quan về hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm về hóa đơn thuế giá trị gia tăng Hóa đơn là một tài liệu quan trọng trong hệ thống quản lý thuế giá trị gia tăng tại nhiều quốc gia và tại Việt Nam.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 123/2020/NĐ-CP, hóa đơn thuế giá trị gia tăng được quy định như sau: “Hóa đơn thuế giá trị gia tăng là một loại hóa đơn, được sử dụng cho các tổ chức kê khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, và trong các hoạt động bao gồm: (i) bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ trong nội địa, (ii) hoạt động vận tải quốc tế, (iii) xuất hàng hóa trong khu phi thuế quan và các trường hợp khác được coi như xuất khẩu”. Từ quy định trên, hóa đơn thuế giá trị gia tăng được khẳng định là một loại hóa đơn áp dụng cho các tổ chức kê khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Xét về mặt bản chất, hóa đơn thuế GTGT là căn cứ pháp lý để xác định phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế và số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ cũng như số thuế GTGT phải nộp NSNN. Hóa đơn thuế GTGT có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, chủ thể sử dụng ở đây là các đối tượng tham gia vào quá trình thực hiện và tuân thủ pháp luật về thuế GTGT.
Thứ hai, hóa đơn thuế GTGT thể hiện thông tin nghiệp vụ mua bán hàng hóa của đối tượng tham gia nghiệp vụ phát sinh. Thứ ba, hóa đơn thuế GTGT được lập phải có đầy đủ nội dung bắt buộc theo quy định. Khái niệm hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng Dưới góc độ pháp lý tại Việt Nam, khái niệm hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng là hành vi bán hoặc mua hóa đơn thuế GTGT bất hợp pháp nhằm hợp thức hóa chứng từ ghi nhận chi phí, doanh thu của doanh nghiệp nhưng không phát sinh giao 6 dịch hàng hóa, dịch vụ thực sự. Hành vi này nhằm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng tới trật tự quản lý kinh tế xã hội và gây thất thu nguồn ngân sách nhà nước.
Hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng khẳng định là hành vi trái pháp luật, lý do đưa ra có nhiều quan điểm, tập chung chủ yếu vào ba quan điểm chính: Quan điểm thứ nhất cho rằng, hành vi mua bán hóa đơn thuế GTGT là hình thức lừa đảo thuế, trong đó các bên tham gia cố ý thực hiện mua bán hóa đơn hoặc xuất khống hóa đơn thuế giá trị gia tăng nhằm hợp thức hóa các hồ sơ, chứng từ kế toán trong doanh nghiệp và hồ sơ khai thuế, thông qua thu lợi ích bất chính từ nguồn doanh nghiệp và nguồn thu ngân sách nhà nước về cá nhân. Quan điểm thứ hai cho rằng, hành vi mua bán hóa đơn thuế GTGT là một hình thức gian lận thuế, trong đó cá nhân, tổ chức cố ý khai sai lệch – làm giảm số tiền thuế GTGT được hoàn hay được khấu trừ trong kỳ trên tờ khai thuế GTGT. Quan điểm thứ ba cho rằng, hành vi mua bán hóa đơn thuế GTGT là một hình thức trốn thuế, trong đó cá nhân tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật liên quan đến thuế và hóa đơn thuế GTGT nhằm giảm số tiền thuế GTGT phải nộp trong kỳ hoặc tăng số tiền thuế GTGT được hoàn hoặc được khấu trừ đầu vào trong kỳ với mức độ vi phạm nghiêm trọng. Về cơ bản, các hình thức trên đối với hành vi mua bán hóa đơn thuế GTGT đều làm giảm số tiền thuế GTGT phải nộp hoặc làm tăng số thuế GTGT được hoàn hoặc được miễn giảm, khấu trừ, từ đó đối tượng thực hiện hành vi sẽ thu lợi bất hợp pháp từ nguồn chi phí của doanh nghiệp hay nguồn ngân sách nhà nước.
Hành vi trốn thuế có phạm vi rộng hơn, trong đó bao gồm cả sự vô tình và sự cố ý; hành vi gian lận thuế có phạm vi hẹp, và là sự cố ý; trong khi đó hành vi lừa đảo thuế lại xét về phạm vi lừa đảo, chiếm đoạt. Như vậy, hành vi mua bán hóa đơn thuế GTGT vừa là hành vi lừa đảo thuế, gian lận thuế cũng như là hành vi trốn thuế; và tùy vào diễn biến, mức độ sự việc mà phân định cụ thể hành vi vi phạm. Tác động tiêu cực của hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng a) Tác động tiêu cực tới trật tự xã hội và chế độ quản lý của Nhà nước Hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng là cấu thành của tội in, phát hành 7 mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Đối tượng thực hiện hành vi ngày càng nhiều tạo nên tiềm ẩn của tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức; diễn biến ngày càng tinh vi, gây hậu quả làm thất thoát hàng nghìn tỉ đồng; đồng thời làm cho công tác quản lý nhà nước gặp trở ngại.
Mức độ tác động của hành vi này lên xã hội ngày càng lớn, xâm phạm nghiêm trọng tới trật tự và kỷ cương pháp luật XHCN cùng với lợi ích của Nhà nước và xã hội, làm suy giảm niềm tin xã hội và công cuộc phát triển đất nước. b) Tác động tiêu cực tới doanh nghiệp và người nộp thuế Hành vi mua bán hóa đơn thuế GTGT gây rắc rối không nhỏ đến doanh nghiệp và người nộp thuế vô tình sử dụng tới. Đầu tiên, hành vi này ảnh hưởng đến việc tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiệp. Thứ hai, hành vi này gây mất thời gian và thiệt hại của doanh nghiệp.
Khi bị thanh tra thuế phát hiện ra có sử dụng hóa đơn khống, hóa đơn không hợp pháp, hóa đơn của các công ty ma, doanh nghiệp này sẽ tốn rất nhiều thời gian giải trình, kê khai lại thuế và tổn thất khi phải đóng bổ sung thuế và tiền nộp phạt do nộp chậm ngân sách nhà nước. c) Tác động tiêu cực tới trật tự của nền kinh tế thị trường. Thông qua các chính sách quản lý nhà nước đưa ra đối với lĩnh vực hóa đơn, hóa đơn thuế giá trị gia tăng, mục đích đề ra là giúp cho việc quản lý được diễn ra thuận lợi. Đối với doanh nghiệp thì sự cải tiến chính sách quản lý hóa đơn thuế GTGT giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, quản trị doanh nghiệp ngày một hiệu quả, tạo một môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa các tổ chức.
Tuy nhiên, hành vi mua bán hóa đơn thuế GTGT là hành vi vi phạm pháp luật, doanh nghiệp thực hiện hành vi này được đánh giá là ý thức chấp hành pháp luật thuế chưa cao, mục đích để giảm số tiền kê khai khấu trừ thuế, hoặc tăng số tiền hoàn thuế giá trị gia tăng, chiếm đoạt tiền thuế, hoặc kê khai khống chi phí nhằm trốn nghĩa vụ thuế, gây thất thu ngân sách nhà nước. Tổng quan Pháp luật về kiểm soát hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm về kiểm soát hành vi mua bán hóa đơn giá trị thuế giá trị gia tăng Theo Từ điển tiếng Việt, “kiểm soát” được hiểu là “xem xét để phát hiện, ngăn 8 chặn những gì trái với quy định” hoặc “đặt trong phạm vi quyền hành của mình”.1 Trong pháp luật khi thực hiện chức năng kiểm soát, người làm luật sẽ xem xét hành vi và xây dựng các tiêu chí nhận diện hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật và chủ thể có khả năng thực hiện hành vi đó. Các cá nhân, tổ chức kiểm soát hành vi thông qua khung pháp lý chung sẽ đối chiếu từ thực tế, xác định chủ thể theo điều kiện, tiêu chí trở thành đối tượng thuộc phạm vi kiểm soát, và tiến hành theo dõi hành vi của chủ thể nhằm phát hiện kịp thời dấu hiệu vi phạm.
Trong trường hợp chủ thể có hành vi vi phạm, gây ảnh hưởng tới nguyên tắc kiểm soát đã đặt ra trước đó, tùy từng mức độ vi phạm, cá nhân hoặc tổ chức thực hiện kiểm soát sẽ đưa ra các chế tài xử phạt để xử lý. Việc kiểm soát hành vi mua bán hóa đơn thuế GTGT không chỉ đơn thuần là phát hiện và ngăn chặn những hành vi trái quy định pháp luật. Kiểm soát hành vi mua bán hóa đơn thuế GTGT từ việc phát hiện và ngăn chặn nhằm kiểm soát sự thất thu NSNN từ nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa hành vi trái pháp luật, những biện pháp xử lý và thu hồi khoản thu NSNN bị thất thoát. Vì vậy, để phát hiện, quản lý và ngăn chặn những hành vi này, cơ quan chức năng có thẩm quyền phải theo dõi, kiểm soát quy trình xuất hóa đơn cũng như số liệu và sự chấp hành pháp luật của các đối tượng đã được khoanh phạm vi cần kiểm soát.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra kết luận chung về kiểm soát hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng như sau: “Kiểm soát hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng là tổng thể các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để theo dõi tình hình sử dụng hóa đơn của các cá nhân, tổ chức có tham gia hoạt động kinh doanh phát sinh nghĩa vụ về thuế giá trị gia tăng, qua đó phát hiện, ngăn chặn những đối tượng lợi dụng những khoảng trống trong quy định pháp luật để thực hiện hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng với mục đích trốn thuế trong nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước và thu lợi ích cá nhân, từ đó áp dụng các biện pháp hành chính, hình sự tùy theo mức độ vi phạm để xử phạt đối tượng có hành vi mua bán hóa đơn thuế giá trị gia tăng và thu hồi thất thoát ngân sách nhà nước trong lĩnh vực thuế”. Từ đó, khái niệm về Kiểm soát hành vi mua bán hóa đơn thuế GTGT là cơ sở để định nghĩa khái niệm về Pháp luật kiểm soát hành vi mua bán hóa đơn thuế GTGT. 1 Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, trang 523 9 1.