Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và các vấn đề liên quan đến đề tài. Chương 2: Những vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam. Chương 4: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam.
8 z C ƣơn 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ngày càng trở nên phổ biến bởi nó đem lại lợi ích lớn cho các chủ thể thực hiện hành vi CTKLM trên thị trƣ ng mà không cần đầu tƣ vào nghiên cứu, sáng tạo. Trong th i gian qua, đã có những công trình nghiên cứu về CTKLM nói chung và pháp luật về CTKLM trong lĩnh vực SHCN nói riêng, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án đã đƣợc quan tâm thực hiện ở trong và ngoài nƣớc. Các công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp 1.
Các công trình nghiên cứu lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Cạnh tranh không lành mạnh, quyền SHCN là những vấn đề đƣợc các học giả ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣ ng phát triển nghiên cứu và có các công trình khoa học đã đƣợc công bố từ thế kỷ trƣớc. Ở Việt Nam, các học giả b t đầu nghiên cứu về những vấn đề này khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trƣ ng o đó, các công trình nghiên cứu chƣa nhiều, phần lớn đều công nhận và kế thừa các vấn đề lý luận cơ ản đã đƣợc các học giả đi trƣớc xây dựng. Các công trình nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Sách “Concurrence déloyale et parasitisme” (Cạnh tranh không lành mạnh và hành vi ăn ám) của Jean- Jacques Burst (1993) [110, p.9] nghiên cứu về các dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung và hành vi CTKLM “ăn ám” nói riêng. Tại trang 9, tác giả đƣa ra khái niệm “bị coi là hành vi CTKLM tất cả những hành vi trái với xử sự trung thực trong thương mại” M c 2 Phần 1 của cuốn sách tác giả phân tích 3 loại hành vi CTKLM trong 3 chƣơng: hành vi gây nhầm lẫn (Chƣơng I), hành vi gièm pha, bôi nhọ (Chƣơng II) và hành vi gây rối hoạt động 9 z của đối thủ cạnh tranh (Chƣơng III) Hành vi gây nhầm lẫn là hành vi CTKLM theo đó “chủ thể cạnh tranh, một cách rất tự nhiên có xu hướng bằng cách lợi dụng thành quả của đối thủ cạnh tranh tạo ra một sự nhầm lẫn trong suy nghĩ của khách hàng” Sự nhầm lẫn này có thể tạo ra bởi các yếu tố khác nhau: nhầm lẫn về các dấu hiệu có khả năng phân iệt nhƣ tên thƣơng mại, biển hiệu, nhãn hiệu…; nhầm lẫn về sự giới thiệu sản phẩm do đối thủ cạnh tranh sao chép bao bì sản phẩm, nhãn hàng hóa hoặc catalogue của sản phẩm; nhầm lẫn về chính các sản phẩm do việc sao chép hình dáng của sản phẩm hoặc sao chép những họa tiết bên ngoài của sản phẩm; nhầm lẫn về quảng cáo; nhầm lẫn về sự giới thiệu cửa hàng qua sự tƣơng tự trong cách giới thiệu bên trong hoặc bên ngoài cửa hàng của đối thủ cạnh tranh.
Hành vi gièm pha là “hành vi có xu hướng đưa ra những thông tin bôi nhọ về nhân thân hoặc về sản phẩm hoặc dịch vụ của đối thủ cạnh tranh” Các phƣơng tiện có thể đƣợc sử d ng để thực hiện hành vi gièm pha: t rơi, t quảng cáo, t thông tin hay tất cả các tài liệu khác. Hành vi gây rối đối thủ cạnh tranh có thể đƣợc thực hiện bởi nhiều cách thức khác nhau. Theo cách chung nhất, “đó là việc làm yếu đi đối thủ cạnh tranh bằng cách gây hại đến các phương tiện sản xuất, kinh doanh hoặc thu hút nhân sự của đối thủ cạnh tranh” Hành vi gây rối hoạt động sản xuất của đối thủ cạnh tranh thông thƣ ng là hành vi tiết lộ bí mật sản xuất hoặc bí quyết công nghệ hoặc những nguy cơ nhƣng chƣa đủ cấu thành hành vi làm hàng giả. Hành vi gây rối hoạt động thƣơng mại của đối thủ nhƣ hủy bỏ quảng cáo, làm đổi hƣớng các đơn đặt hàng, làm đổi hƣớng danh sách hay phiếu thông tin khách hàng, nhà cung cấp… Khái niệm hành vi CTKLM của Jean- Jacques urst tƣơng đồng với khái niệm CTKLM trong pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
Các loại hành vi CTKLM, cách phân loại hành vi CTKLM theo cách phân loại của trong sách này là cách phân loại phổ biến, hiện nay vẫn đƣợc các nghiên cứu về CTKLM sử d ng. Sách “Le droit de la concurrence” (Luật cạnh tranh) của tác giả Yves Chaput (1988) [114, p.69], trang 69 khẳng định bản chất pháp lý của hành vi CTKLM là “việc áp dụng một cách rõ ràng đơn giản luật chung về trách nhiệm pháp lý ngoài hợp đồng” Từ trang 75 đến trang 84, Yves Chaput đã phân iệt hành vi CTKLM gồm 4 loại: hành vi gièm pha, hành vi gây nhầm lẫn, hành vi gây rối nội bộ doanh 10 z nghiệp và hành vi gây rối trên thị trƣ ng Hành vi gièm pha là “hành vi CTKLM có mục đích phát tán thông tin bôi nhọ, nói xấu về nhân thân đối thủ cạnh tranh, về doanh nghiệp đối thủ hay sản phẩm của doanh nghiệp đối thủ” Hành vi gây nhầm lẫn “có mục đích tạo ra sự nhầm lẫn trong suy nghĩ của công chúng” Sự nhầm lẫn này có thể là về cá nhân, về doanh nghiệp hoặc về các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Hành vi gây rối nội bộ doanh nghiệp không tác động trực tiếp đến khách hàng của đối thủ mà tác động vào sức mạnh của đối thủ cạnh tranh thông qua việc thực hiện các hành vi nhƣ hành vi gián điệp công nghiệp, tiếp cận bí mật, bí quyết công nghệ, chiếm những thông điệp dữ liệu hoặc xúi gi c ngƣ i lao động bỏ việc… Hành vi gây rối chung trên thị trƣ ng, đó có thể là trƣ ng hợp một doanh nghiệp để trốn thuế và các khoản trách nhiệm xã hội đã khai áo không trung thực về số nhân công thực tế sử d ng. Nhƣ vậy, Yves Chaput cũng đứng trên quan điểm của các học giả Pháp, xác định căn cứ giải quyết hành vi CTKLM là trên cơ sở trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
Tuy nhiên, nhóm hành vi thứ 4- hành vi gây rối chung trên thị trƣ ng, thông thƣ ng chịu sự điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực khác nhƣ thuế, luật lao động hoặc hành vi hạn chế cạnh tranh nhiều hơn là thuộc nhóm hành vi CTKLM. Sách “Le droit francais de la concurrence” (Luật cạnh tranh của Pháp) của tác giả Yves Serra (1993) [115] dành Chƣơng 2 để phân tích về CTKLM. Ông khẳng định nguyên t c các chủ thể đƣợc tự do cạnh tranh, hoàn toàn hợp pháp khi thu hút khách hàng của chủ thể khác nhƣng việc tìm kiếm khách hàng phải không đƣợc thực hiện bằng những cách thức không lành mạnh và nếu các tòa án khẳng định quyền tự do cho mỗi chủ thể kinh doanh đƣợc lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh, thì đó phải là quyền tự do với điều kiện “tuân thủ những tập quán lành mạnh trong hoạt động thương mại” Yves Chaput phân tích các yếu tố cấu thành của hành vi CTKLM: phải có hành vi mang yếu tố lỗi, có thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại. Các dạng biểu hiện của hành vi CTKLM: hành vi gây nhầm lẫn, hành vi gièm pha, hành vi gây rối hoạt động và cạnh tranh “ăn ám”.
Hành vi gây nhầm lẫn có thể là gây nhầm lẫn về bản thân doanh nghiệp hoặc về sản phẩm của doanh nghiệp. Hành vi gièm pha là xử sự có thể gây thiệt hại đến hình ảnh, danh tiếng của một doanh nghiệp hay một sản phẩm. Theo tác giả 11 z ngƣ i Pháp này, hành vi gièm pha có thể biểu hiện dƣới mọi hình thức: l i nói, hình ảnh, chữ viết; có thể hƣớng đến một sản phẩm hay một dịch v hay một nhóm nghề nghiệp; tác giả cũng xác định ranh giới giữa hành vi gièm pha và quảng cáo so sánh. Hành vi gây rối hoạt động của doanh nghiệp đối thủ thông qua việc lôi kéo ngƣ i lao động sang làm cho doanh nghiệp đối thủ, tiếp cận ngƣ i lao động để làm lộ bí mật kinh doanh.
Hành vi gây rối cũng có thể ở dạng gây rối hoạt động chung trên thị trƣ ng nhƣ việc tài xế taxi không tuân thủ những quy t c nghề nghiệp, bán hàng tự động không tuân theo các quy t c đang có hiệu lực. Hành vi “ký sinh kinh tế” là một hiện tƣợng theo đó “một chủ thể thu hút được khách hàng thông qua việc lợi dụng tên tuổi hoặc công việc của một chủ thể khác” Hành vi này bị coi là “cạnh tranh ký sinh” khi một doanh nghiệp sử d ng phƣơng thức “ký sinh kinh tế” đối với một doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nó. Nhƣ vậy, các học giả Pháp đều coi CTKLM là hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp trong thƣơng mại, chịu sự điều chỉnh của luật chung về trách nhiệm bồi thƣ ng thiệt hại ngoài hợp đồng. Các tác giả đã phân loại hành vi CTKLM thành 3 nhóm: hành vi gây nhầm lẫn, hành vi gièm pha, hành vi gây rối hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, đến nay, hành vi gây rối trật tự chung trên thị trƣ ng ít xem xét ở dạng hành vi CTKLM mà thƣ ng đƣợc xem xét vào hành vi phạm trật tự quản lý hành chính. Bên cạnh đó, một số hành vi CTKLM mới xuất hiện do yếu tố kỹ thuật công nghệ nhƣng chƣa đƣợc thể hiện trong cuốn sách nêu trên nhƣ: hành vi sử d ng tên miền gây nhầm lẫn.