CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM 1. Khái quát về cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Theo dòng phát triển của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử phát triển xã hội loài người, có thể thấy, con người luôn đi tìm động lực phát triển trong các hình thái kinh tế xã hội. Quy luật này dường như đã trở thành một quy luật tất yếu, cho dù ở hình thái sơ khai nhất, như ở hình thái Cộng sản nguyên thủy (Công xã nguyên thủy), khi cơ sở kinh tế chỉ dựa trên sở hữu chung về tư liệu sản xuất và thậm chí xã hội chưa phân hóa giai cấp nên không có sự tồn tại của nhà nước và pháp luật, hay cho dù xã hội phát triển đến hình thái cao nhất – Cộng sản chủ nghĩa, với quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu công cộng.
Đã có thời kỳ, thị trường, cạnh tranh và lợi nhuận được coi như là mặt trái gắn liền với chủ nghĩa tư bản và bị gạt ra khỏi công cuộc xây dựng thể chế kinh tế thời kỳ kế hoạch hóa tập trung. Lúc đó, các Nhà nước xã hội chủ nghĩa coi việc nắm giữ sức mạnh kinh tế kết hợp với yếu tố kế hoạch tập trung như là những động lực cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công bằng, dân chủ và văn minh ( PGS. Lê Danh Vĩnh, ThS. Nguyễn Ngọc Sơn (2010), Giáo trình luật cạnh tranh, NXB.
Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh ). Nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau như kinh tế tự nhiên, kinh tế tập trung và kinh tế thị trường, trong đó kinh tế thị trường là mô hình được nhiều quốc gia lựa chọn cho quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế. Ở Việt Nam, mặc dù đã có quan điểm manh nha về kinh tế thị trường từ Đại hội lần thứ VI khi xác định xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tuy nhiên phải đến Đại hội lần thứ IX, thuật ngữ “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” mới chính thức được sử dụng trong Văn kiện của Đảng. Đại hội Đảng XI đã đưa ra quan điểm về việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải gắn với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức 7 phân phối” ( Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) , Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội ).
Mặc dù vẫn mang những đặc trưng của kinh tế thị trường nói chung nhưng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam có tính đặc thù riêng, là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khác biệt về bản chất so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Và như một hệ quả tất yếu, thị trường Việt Nam bị chi phối bởi quy luật cạnh tranh, xuất phát từ chính quy luật giá trị của sản xuất hàng hóa. Cạnh tranh đã đem lại cho thị trường và cho đời sống xã hội một diện mạo mới, linh hoạt, đa dạng, phong phú và ngày càng phát triển, đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội mà trước đây chưa từng xuất hiện như phá sản, kinh doanh gian dối, cạnh tranh không lành mạnh… Qua hơn 20 năm phát triển nền kinh tế thị trường, cạnh tranh trở thành một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giành ưu thế giữa những người hoạt động trong cùng một lĩnh vực hoặc có chung một mục đích.
Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có một khái niệm đầy đủ và thống nhất về cạnh tranh, bởi ở mỗi góc độ nghiên cứu, cạnh tranh lại có những đặc điểm về chủ thể, hành vi và mục đích thực hiện khác nhau. Dưới góc độ kinh tế, có thể hiểu cạnh tranh là hành vi do các doanh nghiệp, thương nhân hoạt động trên thị trường thực hiện, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, thu được nhiều lợi nhuận nhất trong phạm vi kinh doanh của mình. Khái niệm cạnh tranh theo một số tài liệu nước ngoài cũng có sự khác biệt, từ điển kinh doanh xuất bản ở Anh năm 1992 định nghĩa cạnh tranh theo hướng quan tâm đến đối tượng của cạnh tranh, theo đó, cạnh tranh là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Tuy nhiên, cuốn Black’s law Dictionary lại diễn tả cạnh tranh một cách khái quát và gắn với mục đích của cạnh tranh, đó là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân, nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”.
Theo Từ điển tiếng Việt, cạnh tranh là việc cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau. Tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các nhà khoa học, cạnh tranh được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, có thể thấy các lý thuyết về kinh tế đều thống nhất rằng, cạnh tranh là hoạt động của các chủ thể kinh doanh nhằm tranh giành thị trường, lôi kéo khách hàng về phía mình, cạnh tranh là sản phẩm riêng có của kinh tế thị trường, là linh hồn và là động lực cho sự phát triển của thị trường. Bản chất và vai trò của cạnh tranh Nếu nhìn khái quát trên quy mô toàn xã hội thì cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực, tài nguyên một cách tối ưu, vì vậy, nó là động lực phát triển bên trong của nền kinh tế.
Cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nơi mà cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường (Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh (2001), Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội ). Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng cạnh tranh có bản chất kinh tế - xã hội của nó. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích tạo lập cho chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh một ưu thế chi phối thị trường gắn liền với lợi nhuận. Bản chất xã hội của cạnh tranh thể hiện ở đạo đức kinh doanh và uy tín của mỗi chủ thể cạnh tranh trong mối quan hệ đối với các chủ thể tạo ra tiềm lực cạnh tranh của doanh nghiệp, quan hệ với người tiêu dùng và các đối thủ cạnh tranh khác.
Dưới tác động điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với hoạt động cạnh tranh, cạnh tranh ở mỗi quốc gia còn có bản chất chính trị khác nhau, phụ thuộc vào sự hoạch định và thực thi chính sách kinh tế và chính sách xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung cầu là lõi vật chất, giá cả là diện mạo thì cạnh tranh chính là linh hồn của thị trường. Nhờ có cạnh tranh, cùng 9 với sự thay đổi liên tục về nhu cầu và bản tính tham lam của con người mà nền kinh tế thị trường đã có những bước phát triển nhảy vọt chưa xuất hiện được trong các hình thái kinh tế trước đó. Sự ham muốn không có điểm dừng đối với lợi nhuận của nhà kinh doanh trở thành động lực thúc đẩy họ sáng tạo không mệt mỏi, vì vậy mà cạnh tranh chính là động lực của sự phát triển.
Theo đó, cạnh tranh có những vai trò cơ bản sau đây: (Lê Danh Vĩnh, Giáo trình luật canh tranh (2010), Đại học Kinh tế - Luật, Đại học quốc gia Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh ). Thứ nhất, cạnh tranh điều chỉnh quan hệ cung cầu trên cơ sở quyền tự do lựa chọn của người tiêu dùng. Người tiêu dùng có thể dễ dàng tìm thấy hàng hóa, dịch vụ mà họ muốn với giá tốt nhất và chất lượng cao nhất. Trong môi trường cạnh tranh, chủ thể kinh doanh khó có thể bóc lột người tiêu dùng vì luôn có rất nhiều đối thủ khác sẵn sàng chào bán với giá cả và chất lượng tốt hơn.
Thứ hai, cạnh tranh tạo sức ép, buộc các chủ thể kinh doanh liên tục đổi mới, theo kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đồng thời phải phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có sức cạnh tranh trên thị trường, từ đó cạnh tranh trở thành động lực bên trong thức đẩy nền kinh tế phát triển. Thứ ba, cạnh tranh tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất thích ứng vói hàng loạt sự biến động của nhu cầu xã hội và đổi mới công nghệ, thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong kinh doanh. Bởi chính sự khác biệt trong công nghệ sản xuất, chế biến và quy trình vận hành là một trong những lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. Thứ tư, cạnh tranh kích thích sự sáng tạo, là nguồn gốc của sự đổi mới liên tục trong đời sống kinh tế.
Chính vì vậy, cạnh tranh giúp tạo ra sự đổi mới chung, thường xuyên và liên tục, vì vậy đem lại sự tăng trưởng kinh tế chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực nhất định, thể hiện ở xu hướng phân hóa của các doanh nghiệp, gia tăng hiện tượng phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Đồng thời, chính sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường là nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp có sức cạnh tranh kém bị phá sản, kéo theo nhiều hệ quả xấu như nạn thất nghiệp, tệ nạn, lừa đảo, trộm cắp… gây mất ổn định xã hội và 10 là sức ép đối với chính sách kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia. Ngoài ra, cạnh tranh không lành mạnh cũng tạo ra những hệ lụy xấu đối với người tiêu dùng và các chủ thể kinh doanh khác trên thị trường.
Phân loại các hình thức cạnh tranh Cạnh tranh có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, vì vậy, việc phân loại cạnh tranh cũng phụ thuộc vào những tiêu chí cụ thể của từng góc độ nhất định. Trong kinh tế học và khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu có nhiều cách phân loại cạnh tranh khác nhau dể phục vụ các nhiệm vụ nghiên cứu hoặc cho công tác xây dựng chính sách pháp luật.