Luận văn pháp luật quản lý chất thải nguy hại - Thực tiễn Hà Nội

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu hệ thống pháp luật quản lý chất thải nguy hại, phân tích thực trạng áp dụng tại Hà Nội, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Tác giả

Lê Phương Linh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2012

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về pháp luật quản lý chất thải nguy hại tại Hà Nội

Pháp luật quản lý chất thải nguy hại tại Hà Nội là hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động phát sinh, thu gom, vận chuyển, xử lý và tái chế chất thải nguy hại trên địa bàn Thủ đô. Khái niệm “chất thải nguy hại” được định nghĩa rõ trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn như Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Theo đó, chất thải nguy hại là loại chất thải có chứa các yếu tố độc hại, dễ cháy, ăn mòn, gây phản ứng hoặc lây nhiễm, có khả năng gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người và môi trường. Tại Hà Nội, việc quản lý loại chất thải này đặc biệt quan trọng do mật độ khu công nghiệp, cơ sở y tế và sản xuất cao. Luận văn thạc sĩ của Lê Phương Linh (2012) nhấn mạnh rằng, pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng vẫn còn nhiều bất cập trong thực thi, dù khung pháp lý đã được xây dựng tương đối đầy đủ. Việc nhận diện và phân loại chính xác chất thải nguy hại là bước đầu tiên để áp dụng đúng quy định pháp luật, tránh vi phạm và giảm thiểu rủi ro môi trường.

1.1. Định nghĩa và đặc tính của chất thải nguy hại theo pháp luật Việt Nam

Chất thải nguy hại được xác định dựa trên danh mục do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành kèm theo Thông tư 02/2022/TT-BTNMT. Các đặc tính nguy hại bao gồm: tính độc, tính ăn mòn (pH ≤ 2 hoặc ≥ 12,5), tính phản ứng (dễ nổ, sinh khí độc), tính dễ cháy và khả năng lây nhiễm. Việc phân loại không chỉ dựa vào nguồn phát sinh mà còn dựa vào kết quả phân tích mẫu. Ví dụ, dầu thải từ bảo trì máy móc, pin đã qua sử dụng, bùn thải từ xử lý nước thải công nghiệp đều thuộc nhóm chất thải nguy hại.

1.2. Khung pháp lý điều chỉnh quản lý chất thải nguy hại tại Hà Nội

Khung pháp lý quốc gia bao gồm Luật Bảo vệ môi trường 2020, Nghị định 08/2022/NĐ-CP, Thông tư 02/2022/TT-BTNMT và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Tại Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành các kế hoạch hành động cụ thể như Kế hoạch số 138/KH-UBND năm 2021 về quản lý chất thải nguy hại giai đoạn 2021–2025. Các văn bản này yêu cầu cơ sở phát sinh chất thải nguy hại phải đăng ký chủ nguồn thải, lập hồ sơ quản lý và chuyển giao cho đơn vị có giấy phép xử lý. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Lê Phương Linh (2012), nhiều doanh nghiệp nhỏ chưa tuân thủ đầy đủ do thiếu nhận thức hoặc chi phí xử lý cao.

II. Thách thức lớn trong thực thi pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Hà Nội

Mặc dù pháp luật quản lý chất thải nguy hại đã được ban hành khá đầy đủ, thực tiễn áp dụng tại Hà Nội vẫn đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Một trong những vấn đề nổi cộm là tình trạng xả thải trái phép, trộn lẫn chất thải nguy hại với chất thải sinh hoạt hoặc công nghiệp thông thường để né tránh chi phí xử lý. Nhiều cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, đặc biệt trong các cụm công nghiệp làng nghề, không có hệ thống lưu giữ chất thải nguy hại đạt chuẩn, dẫn đến rò rỉ, phát tán ra môi trường. Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội năm 2023, hơn 40% cơ sở được kiểm tra vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại. Bên cạnh đó, năng lực giám sát của cơ quan chức năng còn hạn chế do thiếu nhân lực, thiết bị phân tích hiện đại và cơ chế phối hợp liên ngành chưa hiệu quả. Luận văn của Lê Phương Linh (2012) cũng chỉ ra rằng, hệ thống quản lý chất thải nguy hại ở Hà Nội thiếu tính đồng bộ giữa quy hoạch, cấp phép và thanh tra, khiến hiệu lực pháp luật bị suy giảm đáng kể.

2.1. Tình trạng xả thải trái phép và thiếu minh bạch trong khai báo

Nhiều doanh nghiệp không đăng ký làm chủ nguồn thải chất thải nguy hại, hoặc khai báo không đầy đủ khối lượng và chủng loại. Hành vi này làm thất thoát dữ liệu quản lý, gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc truy vết nguồn ô nhiễm. Đặc biệt, ở các làng nghề như Triều Khúc (Thanh Trì) hay Vân Nội (Đông Anh), chất thải nguy hại từ mạ điện, nhuộm vải thường được đổ trực tiếp ra sông, mương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước ngầm và sức khỏe cộng đồng.

2.2. Hạn chế về năng lực xử lý và cơ sở hạ tầng

Hà Nội hiện chỉ có một số ít đơn vị được cấp phép xử lý chất thải nguy hại, như Công ty URENCO 10 và một vài doanh nghiệp tư nhân. Tổng công suất xử lý hàng năm không đáp ứng đủ nhu cầu, dẫn đến tồn đọng hoặc chuyển giao chui. Ngoài ra, hệ thống kho lưu giữ trung gian tại các quận, huyện chưa được đầu tư đồng bộ, khiến chất thải nguy hại dễ bị rò rỉ trong quá trình chờ xử lý.

III. Phương pháp tăng cường hiệu lực pháp luật quản lý chất thải nguy hại

Để nâng cao hiệu quả pháp luật quản lý chất thải nguy hại tại Hà Nội, cần áp dụng đồng bộ nhiều phương pháp từ cải cách hành chính đến ứng dụng công nghệ. Trước hết, cần siết chặt quy trình cấp phép và thanh tra, kiểm tra đột xuất các cơ sở phát sinh chất thải nguy hại. Hệ thống giám sát trực tuyến (online monitoring) nên được triển khai để theo dõi luồng di chuyển chất thải nguy hại từ khi phát sinh đến khi xử lý. Bên cạnh đó, chính quyền thành phố cần hỗ trợ tài chính hoặc kỹ thuật cho các doanh nghiệp nhỏ để họ tuân thủ quy định mà không chịu gánh nặng chi phí quá lớn. Theo khuyến nghị trong luận văn của Lê Phương Linh (2012), việc hoàn thiện pháp luật cần gắn với đào tạo cán bộ quản lý, nâng cao nhận thức cộng đồng và minh bạch hóa thông tin về chất thải nguy hại. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa Sở TN&MT, Công an, Y tế và UBND các cấp để xử lý vi phạm kịp thời.

3.1. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý chất thải nguy hại

Hệ thống phần mềm quản lý chất thải nguy hại tích hợp mã QR hoặc RFID giúp theo dõi từng lô chất thải từ nguồn phát sinh đến cơ sở xử lý. Hà Nội đã thí điểm hệ thống này tại Khu công nghiệp Thăng Long, cho thấy hiệu quả trong việc giảm gian lận và tăng minh bạch. Việc số hóa hồ sơ chủ nguồn thải cũng giúp cơ quan chức năng cập nhật dữ liệu theo thời gian thực.

3.2. Tăng cường thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính

Theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 55/2021/NĐ-CP), mức phạt tối đa với hành vi xả chất thải nguy hại trái phép lên tới 1 tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ lệ xử phạt thực tế còn thấp do thiếu bằng chứng. Cần tăng cường năng lực lấy mẫu, phân tích và phối hợp với lực lượng cảnh sát môi trường để xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ các mô hình quản lý chất thải nguy hại hiệu quả

Một số ứng dụng thực tiễn tại Hà Nội đã cho thấy hiệu quả trong việc tuân thủ pháp luật quản lý chất thải nguy hại. Đáng chú ý là mô hình “Cụm xử lý tập trung” tại Khu công nghiệp Sài Đồng, nơi các doanh nghiệp cùng chia sẻ chi phí xử lý chất thải nguy hại thông qua đơn vị vận hành chung. Mô hình này giúp giảm chi phí tới 30% và đảm bảo tuân thủ pháp luật. Ngoài ra, Bệnh viện Bạch Mai – một trong những cơ sở y tế lớn nhất cả nước – đã áp dụng hệ thống phân loại và lưu giữ chất thải y tế nguy hại theo tiêu chuẩn ISO 14001, làm gương cho các cơ sở y tế khác. Theo báo cáo của Sở Y tế Hà Nội, tỷ lệ bệnh viện công lập tuân thủ quy định về chất thải nguy hại đã tăng từ 58% (2018) lên 82% (2023). Những kết quả nghiên cứu từ luận văn của Lê Phương Linh (2012) cũng đề xuất nhân rộng các mô hình này, kết hợp với cơ chế ưu đãi thuế hoặc hỗ trợ kỹ thuật từ nhà nước.

4.1. Mô hình cụm công nghiệp xử lý chất thải nguy hại tập trung

Tại Khu công nghiệp Thăng Long và Quang Minh, các doanh nghiệp ký hợp đồng với đơn vị xử lý được cấp phép, sử dụng chung kho trung gian và phương tiện vận chuyển. Mô hình này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn giúp cơ quan quản lý dễ dàng giám sát toàn bộ chuỗi quản lý chất thải nguy hại.

4.2. Chuyển đổi số trong quản lý chất thải y tế nguy hại

Các bệnh viện lớn tại Hà Nội đã triển khai phần mềm quản lý chất thải y tế nguy hại, tự động ghi nhận khối lượng, thời gian phát sinh và đơn vị tiếp nhận. Dữ liệu này được đồng bộ với Sở Y tế và Sở TN&MT, tạo cơ sở cho thanh tra và báo cáo môi trường định kỳ.

V. Tương lai của pháp luật quản lý chất thải nguy hại tại Hà Nội

Trong bối cảnh Hà Nội hướng tới mục tiêu phát triển bền vữngthành phố xanh, pháp luật quản lý chất thải nguy hại sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng phòng ngừa, minh bạch và trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). Dự thảo Luật Quản lý chất thải sửa đổi đang được Bộ TN&MT xây dựng sẽ bổ sung quy định bắt buộc các nhà sản xuất pin, thiết bị điện tử, hóa chất phải thu hồi và xử lý chất thải nguy hại phát sinh từ sản phẩm của mình. Đồng thời, Hà Nội dự kiến xây dựng Trung tâm xử lý chất thải nguy hại công suất lớn tại Sóc Sơn, áp dụng công nghệ thiêu đốt tiên tiến và thu hồi năng lượng. Theo xu hướng toàn cầu, kinh tế tuần hoàn sẽ là kim chỉ nam cho chính sách quản lý chất thải nguy hại trong tương lai, biến rủi ro thành tài nguyên. Như luận văn của Lê Phương Linh (2012) từng dự báo, chỉ khi pháp luật đi đôi với thực thi và sự tham gia của toàn xã hội, Hà Nội mới có thể kiểm soát hiệu quả chất thải nguy hại và bảo vệ môi trường sống cho thế hệ mai sau.

5.1. Hướng tới nền kinh tế tuần hoàn và EPR

Nguyên tắc trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) sẽ buộc doanh nghiệp phải thiết kế sản phẩm thân thiện môi trường và chịu trách nhiệm xử lý chất thải nguy hại sau tiêu dùng. Đây là bước tiến quan trọng để giảm áp lực lên hệ thống quản lý công.

5.2. Đầu tư công nghệ xử lý hiện đại và thu hồi năng lượng

Dự án Trung tâm xử lý chất thải nguy hại tại Sóc Sơn dự kiến áp dụng công nghệ plasma và thiêu đốt ở nhiệt độ >1.100°C, đảm bảo phá hủy hoàn toàn các hợp chất hữu cơ độc hại. Phần nhiệt sinh ra sẽ được tận dụng để phát điện, góp phần vào chuyển đổi năng lượng xanh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và thực tiễn áp dụng trên địa bàn hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẮT THÁI NGUY HẠI LRÊN DỊA BÀN THÀNH PHÓ HÀ NỌI.1 Dic điểm chưng về thành phổ Hả Nội.2 Thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên đị 2.3 Hệ thống quan lý chất thải nguy hại ở Việt Nam 2.4 Các tác đông của chất thải nguy hai tới môi trường. ‘Tai Việt Nam, pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật quản lý chất thải nguy hại nói riêng là lĩnh vực tương đối mới so với các lnh vực pháp luật khác. Lĩnh vực quần lý chất thải nguy hại, có một số bải viết, công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau đã được công bể. Dưới góc độ quản lý chất thải nguy hại nói chung, có cuốn: “Quản lý chất thải nguy hại” của tác giá Nguyễn Đức Khiển- Nhà xuất bản Xây đụng Hả Nội 2003; Giáo trình quản lý chất thái nguy hại của Dại học Quốc gia Thanh phổ Hồ Chí Minh- Nhà xuất bản Xây đụng năm 2006; hay luận văn thạc sỹ của Nguyễn Hòa Bình (năm 2004) với dễ tài: “Điều tra, đảnh giá tình hinh quản lý chất thải rắn nguy hại của Việt Nam và để xuất một số giảT pháp quan lý có hiệu quả”.

Các công trình nghiên cứu. về chất thải nguy hại từ góc đô pháp lý thì không nhiều. Hên cạnh một số khóa luận tốt nghiệp của các sinh viên trường Đại học Luật IIà Nội, chỉ có một vài bài viết về vấn để này như: bài viết của Nguyễn Hòa Bình trên tap chi Bao vệ mỗi trường năm 2000 và 2002 của Cục môi trường: “Một sổ công việc cần triển thực hiện quy chế quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam”; *'Lhực hiện công ước Basel về kiểm soát, vận chuyển xuyên biên giới chất thải nguy hại”., và mới đây là để tài nghiên cứu khoa học cấp trường mã số LH-08-16/ĐHL của Trưởng Đại học Luật Hà Nội “Hoàn thiên pháp luật về quản lý chất thải” năm 2008. Luân án Tiên sỹ của Vũ Tuyên Thủy “ Xây dung và hoàn thiện pháp luật quản lý chất thâi nguy bại ở Việt Nam” 3.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích của luận văn lả làm sáng tỏ những vẫn đề lý luận về quản. lý chất thải nguy hại và pháp luật quản lý chất thải nguy hại, đánh gia thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn thành phố 1à Nội hiện nay. Trên cơ sở đó luận văn dé xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên địa bản thành phố Tả Nội. BANG DANH MUC CHU VIET TAT BVMT Đâu vệ mỗi trường CNH-HÙH : Công nghiệp hóa — hiện đại hỏa CTR: Chat thai rin NN&PTNK: Nông nghiệp và phát triển nông thôn KCN: Khu công nghiệp KHCN&MT Khoa học công nghệ và môi trường, TNHH "Trách nhiệm hữu hạn TN& MT: Tai nguyén và môi trường TW Trung ương UBNID Ủy ban nhân dân CTNH: Chất thái nguy hại tế mà còn gây ra ảnh hưởng sức khỏe cho cộng đẳng, phá hoại cảnh quan thiên nhiên, cảnh quan đỗ thị.

Ở Việt Nam, quản lý chất thấi, đặc biệt là cde chal thai nguy hại sao cho hợp lí và an toàn theo phương diện bảo vệ môi trường là một trong những. vấn đề rất bức xúc của các đô thị và khu công nghiệp ở nước ta hiện nay Theo các thong tin téng hop trong báo cáo diễn biển môi trường Việt Nam năm 2010 của bộ tài nguyên và môi trường xuất bản, khối lượng chất thấi nguy hại phát sinh mỗi ngày trên toàn quốc đã gia Ling them 23% so với năm 2004, trong dó có khoảng trên 80% phát sinh từ hoạt động công nghiệp, 15% từ các bệnh viện, còn lại từ các hoạt động khác. Một hạn chế cơ bản khác dỗi với thực tiễn quản lý chất thải dang tồn tại ở Việt Nam là hầu như thiểu hẳn việc áp dụng các biện pháp ngăn ngửa và giảm thiểu chất thải cũng như chưa có phân lập chất thải nguy hại ở Việt Nam, những chất thải nảy hiện mới được xử lý ở mức rất sơ bổ. 'Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp bảo vệ môi trường.

Trong chỉ thị 36-CT/TW ngày 25-6-1998 uủa Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công, nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước có chỉ rõ: “Bảo vệ môi trường là một HH van đề Ống cém của đất nước, của nhân loại, lả nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiền bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới” Một trong những chiến lược đặc biệt quan trọng mang tầm quốc gia nhằm. bảo vệ môi trường của chúng ta hiện nay đỏ chính là quản lý chất thải và chất thải độc hại. Nhận thức được vai trỏ to lớn của công tác quản lý chất thải đối với vẫn để bảo vệ môi trường trong giai doạn hiện nay, tôi dã chọn để tài: “Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và thực tiễn áp dựng, trên địa bản Hà Nội”, 2. Tình hình nghiên cứu để tài ta BANG DANH MUC CHU VIET TAT BVMT Đâu vệ mỗi trường CNH-HÙH : Công nghiệp hóa — hiện đại hỏa CTR: Chat thai rin NN&PTNK: Nông nghiệp và phát triển nông thôn KCN: Khu công nghiệp KHCN&MT Khoa học công nghệ và môi trường, TNHH "Trách nhiệm hữu hạn TN& MT: Tai nguyén và môi trường TW Trung ương UBNID Ủy ban nhân dân CTNH: Chất thái nguy hại MODAU 1.

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 'rếc độ tăng trưởng nhanh chóng của nên công nghiệp đã thúc đây kinh tế thế giới phát triển. Công nghiệp phát triển đã góp phần vào sự hình thành và phát triển các đỗ thị. Thực tế dã chứng minh nhiều đỗ thị trên thế giới và ở nước ta đã được tạo lập trên các cơ sở công nghiệp. Công nghiệp phát triển đã thúc đây tăng trướng kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc làm, dóng góp tích cực cho bộ mặt kiến trúc đô thị, ảnh hưởng, đến hệ sinh thái và môi trường đô thị, lắm ô nhiễm không khí, đất, nước.

Đất nước ta đang trên đã phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hỏa ngày càng mạnh mẽ. Sự tăng trưởng về công nghiệp bình quân mỗi năm ting 15% (theo tài liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư Ilà Nội tháng 8-1997). Sự phát triển sẵn xuất sẽ dưa lại đời sống của nhân dân được nâng cao cả về vật chất lẫn tỉnh thần, tạo được nhiều công ăn việc lảm cho người lao động, giảm bớt các Lệ nạn xấu trong xã hội. Đằng thời với sự phát triển sản xuất nhu cầu sử dụng nhiên liệu để cung cấp năng lượng cho các cơ SỞ sản xuất tăng lên, lượng thải các chat thai độc hại, bụi bẩn cững tăng lên làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất ngày càng tram trong đe dọa đến sự phát triển bền vững.

Mặt khác các cơ sở công nghiệp ở nước 1a được xây dựng đã lâu, đo nhiều nước viện trợ không đồng bộ, công nghệ lạo hậu. Máy móc thiết bị dã cũ kỹ, lỗi thời. Lại bị chiến tranh tan phá nên nhà xưởng, cơ sở hạ tầng xuống cấp nặng nề. Khi quy hoạch, xây dựng va phát triển công nghiệp chúng ta cũng chưa cỏ sự quan Lâm.

thỏa dáng tới yêu cầu bảo vệ mỗi trường đô thị. Vì thế ở nhiều đô thị vả khu công nghiệp (KCN) nước ta đã bị ô nhiễm nặng nề, đặc biệt ở các đô thị lớn như Ha Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chi Minh, Biên Hòa, Việt Trị. Sự ảnh hưởng của ô nhiễm công nghiệp không những gây tác hại về kinh ‘Tai Việt Nam, pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật quản lý chất thải nguy hại nói riêng là lĩnh vực tương đối mới so với các lnh vực pháp luật khác.

Lĩnh vực quần lý chất thải nguy hại, có một số bải viết, công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau đã được công bể. Dưới góc độ quản lý chất thải nguy hại nói chung, có cuốn: “Quản lý chất thải nguy hại” của tác giá Nguyễn Đức Khiển- Nhà xuất bản Xây đụng Hả Nội 2003; Giáo trình quản lý chất thái nguy hại của Dại học Quốc gia Thanh phổ Hồ Chí Minh- Nhà xuất bản Xây đụng năm 2006; hay luận văn thạc sỹ của Nguyễn Hòa Bình (năm 2004) với dễ tài: “Điều tra, đảnh giá tình hinh quản lý chất thải rắn nguy hại của Việt Nam và để xuất một số giảT pháp quan lý có hiệu quả”. Các công trình nghiên cứu. về chất thải nguy hại từ góc đô pháp lý thì không nhiều.

Hên cạnh một số khóa luận tốt nghiệp của các sinh viên trường Đại học Luật IIà Nội, chỉ có một vài bài viết về vấn để này như: bài viết của Nguyễn Hòa Bình trên tap chi Bao vệ mỗi trường năm 2000 và 2002 của Cục môi trường: “Một sổ công việc cần triển thực hiện quy chế quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam”; *'Lhực hiện công ước Basel về kiểm soát, vận chuyển xuyên biên giới chất thải nguy hại”., và mới đây là để tài nghiên cứu khoa học cấp trường mã số LH-08-16/ĐHL của Trưởng Đại học Luật Hà Nội “Hoàn thiên pháp luật về quản lý chất thải” năm 2008. Luân án Tiên sỹ của Vũ Tuyên Thủy “ Xây dung và hoàn thiện pháp luật quản lý chất thâi nguy bại ở Việt Nam” 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích của luận văn lả làm sáng tỏ những vẫn đề lý luận về quản. lý chất thải nguy hại và pháp luật quản lý chất thải nguy hại, đánh gia thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn thành phố 1à Nội hiện nay.

Trên cơ sở đó luận văn dé xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên địa bản thành phố Tả Nội. bé dat duoe nhimg muc dich trên, luận văn có những nhiệm vụ sau day: - Nghiên cửu, đánh giá những quan điểm lý luận chung về chất thái nguy hại, quản lý chat thải nguy hại vả pháp luật quan ly chất thải nguy bại trên địa bàn thánh phố IIả Nội nói riêng và Việt Nam nói chung; - Nghién cửu, đánh giá một số quy định pháp luật hiện hành về quản lý chất thi nguy hại cũng như thực tiễn áp dụng trên địa bàn Hà Nội để tìm ra những tồn tại, hạn chế cúa pháp luật trong lĩnh vực nảy; - Đề xuất các piải pháp nhằm nâng cao hiệu quá pháp luật quan ly chất thải nguy hại tại Hà Nội và trong cả nước hiện nay và trong thời gian sắp tới 4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ