Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu: tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Khung lý thuyết về tín dụng ngân hàng, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng. Đây là cơ sở lý luận cho nội dung xuyên suốt đề tài. Những nội 8 dung mang tính đặt vấn đề trong Chương 2 bao gồm: tổng quan định nghĩa, khái niệm về tín dụng ngân hàng.
Tổng quan khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại về rủi ro tín dụng, các tiêu chí phản ảnh nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và hậu quả mà rủi ro tín dụng đem lại cho ngân hàng thương mại nói riêng và nền kinh tế nói chung. Đồng thời, chương 2 có đề cập một số yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng thông qua các bằng chứng thực nghiệm: rủi ro tín dụng năm trước liền kề, quy mô của ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng, tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản hay tỷ lệ tăng trưởng GDP,… Chương 3: Tổng quan về phương pháp nghiên cứu đề tài. Dựa trên cơ sở lý luận và những bằng chứng thực nghiệm đã đề cập ở chương 2, tác giả đặt các giả thiết nghiên cứu, xác định các biến nghiên cứu và mô hình nghiên cứu, lập dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Nêu rõ thực trạng rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008-2016, trong đó luận văn có đề cập đến quy định hiện hành về phân loại nợ và lập dự phòng rủi ro tín dụng, diễn giải những con số nói lên tình trạng đáng báo động của rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
Đồng thời, dựa trên dữ liệu nghiên cứu đã thu thập trước đó, tác giả thống kê mô tả dữ liệu, phân tích ma trận tương quan và hồi quy dữ liệu, tiến hành thảo luận và phân tích kết quả nghiên cứu nhận được. Chương 5: Từ những phân tích thực trạng và các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Việt Nam trong Chương 4 Luận văn đúc kết kinh nghiệm, đề xuất các nhóm giải pháp khả thi để giảm thiểu rủi ro tín dụng trong toàn hệ thống ngân hàng thương mại nhằm phát triển hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam ngày càng tốt hơn trong thời gian tới. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG 2.1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng 2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tiếp cận ở góc độ chức năng hoạt động của ngân hàng thì “tín dụng ngân hàng (TDNH) là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu, Lê Thị Hiệp Thương, 2011, trang 5-6).2 Các đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu, Lê Thị Hiệp Thương (2011) đưa ra những đặc trưng của tín dụng ngân hàng gồm: Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng đa dạng, có thể dưới dạng tiền tệ, tài sản hoặc chữ ký. Rủi ro trong tín dụng ngân hàng có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn.Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi một trong hai yếu tố khả năng trả nợ và/hoặc thiện chí trả nợ không được hình thành đầy đủ.
Trong đó thiện chí trả nợ là yếu tố vô hình, do vậy rủi ro tín dụng là yếu tố xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng, ngân hàng không thể triệt tiêu, loại bỏ hoàn toàn được rủi ro tín dụng. Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng. Phần lãi là giá phải trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi.Để thực hiện được nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi suất dương. Để hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi phải cân nhắc hai yếu tố căn bản sau đây: (i) xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng phải hợp lý, (ii) chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và được nền kinh tế chấp nhận.
10 Sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện. Các chứng từ được hình thành trong quan hệ tín dụng Ngân hàng như hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, khế ước nhận nợ…đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn. Đây chính là những ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình sử dụng tín dụng của ngân hàng.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới nhiều hình thức, được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau theo các tiêu chí phân loại khác nhau. Trên thực tế, người ta thường đề cập đến các hình thức tín dụng ngân hàng với nhiều các tiêu thức phân chia khác nhau gồm: Căn cứ thời hạn cấp tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: bao gồm những khoản tín dụng có thời hạn trong vòng 12 tháng trở xuống và được sử dụng để tài trợ vốn lưu động thiếu hụt theo thời vụ cho các doanh nghiệp, những khoản vay tiêu dùng có thời hạn ngắn.
Khách hàng vay đa dạng nhiều tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế xã hội. - Tín dụng trung hạn: bao gồm những khoản tín dụng có thời hạn sử dung tín dụng trên 1 năm cho đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu để tài trợ cho tài sản cố định, ví dụ mua sắm cải tạo sửa chữa nhà ở, mua máy móc dây chuyền công nghệ trong các doanh nghiệp, bổ sung vốn lưu động thường xuyên… - Tín dụng dài hạn: bao gồm những khỏan tín dụng có thời hạn sử dụng tín dụng từ 5 năm trở lên. Những dự án đầu tư qui mô lớn của doanh nghiệp, các khoản vay mua nhà của cá nhân… thuộc dạng này. Căn cứ mục đích sử dụng tín dụng - Tín dụng cho sản xuất kinh doanh: bao gồm tất cả các khoản tín dụng tài trợ cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Chủ thể cho vay có thể là doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các hộ kinh tế cá thể…với nhiều mục đích đa dạng, chẳng hạn bổ 11 sung vốn lưu động theo thời vụ, vay đầu tư cải tạo, xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị… - Tín dụng tiêu dùng: đáp ứng cho các nhu cầu mua sắm nhà cửa, xe cộ, chi tiêu, sinh hoạt cá nhân/hộ gia đình… - Tín dụng đối với các tổ chức tài chính khác: tín dụng cho sản xuất kinh doanh và tín dụng tiêu dùng thường được cung cấp trực tiếp cho người có nhu cầu – “bán lẻ”, những tín dụng đối với các tổ chức tài chính khác được xem là những khoản tín dụng được cung cấp dưới dạng “bán sỉ/buôn”. Căn cứ theo xuất xứ/nguồn gốc của khoản tín dụng: - Tín dụng trực tiếp: bao gồm những khỏan tín dụng được hình thành trực tiếp trong quan hệ giữa ngân hàng và người vay. - Tín dụng gián tiếp: gồm những khoản tín dụng được ngân hàng thực hiện trên cơ sở mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán trên các phiếu bán hàng, thương phiếu… từ người sở hữu chúng, bao gồm chiết khấu, bao thanh toán, tài trợ bán trả góp… Căn cứ tính chất đảm bảo/mức độ tín nhiệm của người vay: - Tín dụng có đảm bảo: là tín dụng dựa trên cơ sở của các biện pháp bảo đảm được pháp luật quy định trong bộ luật dân sự như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh… Hầu hết các khách hàng mới, ít quan hệ đều phải áp dụng bảo đảm mới được ngân hàng cấp tín dụng, nhằm hình thành nguồn trả nợ bổ sung trong trường hợp nguồn trả nợ đầu tiên không thực hiện được. - Tín dụng không có đảm bảo: là tín dụng chỉ dựa trên uy tín của chính người nhận tín dụng mà không cần các biện pháp bảo đảm tiền vay đi kèm.
Thường áp dụng đối với khách hàng truyền thống, tín nhiệm cao, phương án vay có hiệu quả kinh tế, dòng tiền trả nợ rõ ràng, chắc chắn, ngoài ra còn phải cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản khi tổ chức tín dụng yêu cầu thì mới được ngân hàng chấp nhận cấp tín dụng không có bảo đảm. 12 Căn cứ theo hình thức cấp tín dụng: - Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, trong đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. - Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. - Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng theo thỏa thuận.
- Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng. Việc phân loại tín dụng ngân hàng theo một số tiêu thức như trên chỉ có ý nghĩa tương đối trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết. Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cấp tín dụng và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng 2.2 Tổng quan về rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel committee on Banking supervision-BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng vào thập 13 kỷ 80.