Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2. Khái niệm tín dụng tại ngân hàng thương mại. Tín dụng không những là hoạt động truyền thống mà còn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Yếu tố chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, đồng thời tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất là tín dụng. Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cảm kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Khách hàng vay vốn của NHTM bao gồm 2 đối tượng: Khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp.1: Đặc điểm cơ bản phân loại tín dụng KHCN và KHDN Nội dung Khách hàng cá nhân Khách hàng doanh nghiệp Đối tượng vay Cá nhân, hộ gia đình Doanh nghiệp Quy mô khoản Hầu hết khoản vay có quy mô Khoản vay có quy mô lớn, thường vay nhỏ, nhưng số lượng khoản tỷ lệ với quy mô hoạt động của vay lớn. doanh nghiệp Mục đích vay Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu Mua sắm tài sản cố định, máy dùng cá nhân hoặc sản xuất, móc, phương tiện sản xuất, mở kinh doanh nhỏ lẻ, cá nhân, hộ rộng quy mô kinh doanh, bổ sung gia đình nguồn vốn lưu động, mua sắm hàng hóa… 6 Nguồn trả nợ Từ nguồn lương, nguồn thu Từ lợi nhuận từ hoạt động kinh vay nhập từ kinh doanh doanh của doanh nghiệp Thủ tục cho vay Thủ tục, giấy tờ, yêu cầu để Thủ tục, giấy tờ, yêu cầu để thẩm thẩm định khoản vay đơn giản, định khoản vay phức tạp hơn, tiêu hoàn tất trong thời gian ngắn tốn nhiều thời gian hơn.
Rủi ro Mức độ rủi ro lớn (nguồn tài Mức độ rủi ro thấp hơn (trình độ chính trả nợ vay thường thay quản lý, kinh doanh tốt hơn). đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc, sức khỏe của cá nhân, trình độ quản lý, kinh doanh thường yếu hơn so với doanh nghiệp Lãi suất vay Lãi suất vay cao (do quy mô Lãi suất vay thấp hơn (quy mô khoản vay nhỏ nên chi phí khoản vay lớn nên chi phí tính thẩm định, hành chính, quản lý trên đơn vị thấp hơn) tín dụng trên mỗi đơn vị cho vay cao) Thời hạn vay Chủ yếu là vay ngắn hạn, trung Chủ yếu là vay trung và dài hạn hạn Nguồn: Tổng hợp của tác giả 7 2. Lý thuyết về khả năng trả nợ của KHDN Khả năng trả nợ của doanh nghiệp là việc đánh giá được khách hàng có thực hiện được đúng hạn nghĩa vụ trả nợ cho bên cấp tín dụng trong toàn bộ thời gian quan hệ tín dụng hoặc trong một khoảng thời gian xác định hay không. Hiện nay, các chuyên gia tài chính tại Việt Nam và trên thế giới vẫn chưa đạt được sự thống nhất về khái niệm "Khả năng trả nợ của khách hàng” thay vào đó họ tập trung vào biểu hiện của khách hàng được đánh giá là “không có khả năng trả nợ vay” hoặc “có khả năng trả nợ vay”.
Khả năng trả nợ vay của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức cho doanh nghiệp vay nợ. Năng lực tài chính đó tồn tại dưới dạng tiền tệ (tiền mặt, tiền gửi…), các khoản phải thu từ các cá nhân mắc nợ doanh nghiệp, các tài sản có thể chuyển nhanh thành tiền như: hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán. Các khoản nợ của doanh nghiệp có thể là các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, khoản nợ tiền hàng do xuất phát từ quan hệ mua bán các yếu tố đầu vào hoặc sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp phải trả cho người bán hoặc người mua đặt trước, các khoản thuế chưa nộp ngân hàng nhà nước, các khoản chưa trả lương. Căn cứ theo hiệp ước Basel II có 2 tình trạng sau có thể dùng làm căn cứ để đánh giá khả năng không trả nợ được của khách hàng: - Khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khi đến hạn mà chưa tính đến việc ngân hàng bán tài sản (nếu có) để hoàn trả.
- Khách hàng có các khoản nợ xấu có thời gian quá hạn trên 90 ngày. Trong đó, những khoản thấu chi được xem là quá hạn khi khách hàng vượt hạn mức hoặc được thông báo một hạn mức nhỏ hơn dư nợ hiện tại. Cũng theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2004), các khoản vay được coi là “Nonperforming loan – nợ xấu” khi: “là khoản nợ khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc đồng ý chậm theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn 8 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ”. Tại Việt Nam, căn cứ theo theo thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 quy định TCTD phân loại nợ theo phương pháp định lượng và định tính thành 05 nhóm như sau: Bảng 2.
Phân loại nợ của Việt Nam STT Nhóm nợ Phương pháp định lượng Phương pháp định tính Nợ đủ tiêu Nợ trong hạn, hoặc quá Có đủ khả năng thu hồi đầy 1 chuẩn hạn dưới 10 ngày. đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. Có khả năng thu hồi đầy đủ cả Quá hạn 10-90 ngày; nợ nợ gốc và lãi nhưng có dấu 2 Nợ cần chú ý điều chỉnh hạn trả nợ lần hiệu suy giảm khả năng trả đầu. Không có khả năng thu hồi nợ Quá hạn 91-180 ngày; nợ Nợ dưới tiêu gốc và lãi khi đến hạn; có khả 3 gia hạn lần đầu; miễn hoặc chuẩn năng tổn thất một phần nợ gốc giảm lãi.
Quá hạn từ 181-360 ngày; 4 Nợ nghi ngờ nợ cơ cấu lại thời hạn trả Có khả năng tổn thất cao. nợ lần thứ hai. Nợ quá hạn trên 360 ngày; nợ có cơ cấu lại thời hạn Nợ có khả năng Không còn khả năng thu hồi, 5 trả nợ lần thứ hai nhưng mất vốn mất vốn. lại quá hạn; nợ cơ cấu lại thời hạn lần thứ ba trở lên.
Nguồn: Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 9 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp 2. Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp 2. Nghiên cứu của Chiara Pederzoli, Costanza Torricelli (2010) Đây là mô hình nghiên cứu phát triển dựa trên nghiên cứu của Beaver (1966) và Altman (1968).
Mô hình sử dụng mẫu nghiên cứu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn vùng Emilia Romagna thuộc Italia để xác định điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn dựa trên giả định là rủi ro tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng của KHDN. Trong bài viết này, các tác giả sử dụng các chỉ tiêu tài chính và trọng số để đo lường xác suất vỡ nợ của KHDN quy mô vừa và nhỏ. Các tác giả đã xây dựng mô hình như sau: PD = 1/(1+exp(2.43SALESA)) Trong đó: - Biến phụ thuộc là PD thể hiện xác suất vỡ nợ của KHDN - Các biến độc lập bao gồm: + LTLA = Nợ dài hạn/Tổng tài sản + EBITA = Lợi nhuận trước thuế/Tổng tài sản + QUITYA = Nợ phải trả/Tổng tài sản + SALESA = Doanh thu/Tổng tài sản Xác suất vỡ nợ PD càng cao thì xác suất trả nợ của KHDN càng thấp và ngược lại, xác suất vỡ nợ PD càng thấp thì xác suất trả nợ của KHDN càng cao. Bằng cách sử dụng 4 chỉ tiêu tài chính căn bản là tổng tài sản, nợ, doanh thu, lợi nhuận từ bảng cân đối kế toán, kết quả mô hình cho thấy các chỉ tiêu tài chính có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của KHDN.
Nghiên cứu của Irakli Niua (2008) Mô hình nghiên cứu của Irakli Niua nghiên cứu mối quan hệ giữa các khoản vay có TSBĐ và khả năng trả nợ của KHDN thuộc 11 nhóm ngành khác nhau, trong khoảng thời gian từ 2004 đến 2007 tại ProCreditBank. Tác giả sử dụng mô hình Logistic để giải thích mối quan hệ giữa các khoản vay có TSBĐ 10 với khả năng trả nợ của KHDN, với biến phụ thuộc là tỷ lệ khoản vay không hoàn trả (LLR). Các khoản vay có LLR cao là các khoản vay có nhiều rủi ro và các khoản vay có LLR thấp là các khoản vay có ít rủi ro hơn. Mô hình nghiên cứu được xây dựng bằng biến phụ thuộc và các biến độc lập như sau: - Biến phụ thuộc là LLR: tỷ lệ khoản vay không hoàn trả - Biến độc lập bao gồm: + COLLATERAL: Biến giả (biến giả bằng 1 nếu khoản vay có TSBĐ, biến giả bằng 0 nếu khoản vay không có TSBĐ) + RAMOUNT: Giá trị khoản vay + RLENGTH: Thời gian cho vay + RATIORA: Tỷ lệ cho vay + CLIENTTYPE: Biến giả cho xếp loại khách hàng (biến giả bằng 1 nếu là khách hàng cũ, biến giả bằng 0 nếu là khách hàng mới) + EMPLOYMENT: Số lượng nhân viên của doanh nghiệp + Biến giả cho thành phố nơi có trụ sở của đơn vị cho vay + Biến giả cho nhóm ngành hoạt động của doanh nghiệp vay - Với mức ý nghĩa 1%, TSBĐ có mối quan hệ đồng biến với LLR.
Nghĩa là tỷ lệ TSBĐ càng tăng thì tỷ lệ các khoản vay không hoàn trả càng tăng và ngược lại. Do đó, việc cho vay có TSBĐ hay không có TSBĐ có ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận hoặc tổn thất của ngân hàng. Trên cơ sở này, tác giả nhận định các khoản vay tín chấp có xác suất hoàn trả cao hơn các khoản vay thế chấp. - Tỷ lệ cho vay cuối cùng có ảnh hưởng không tốt tới LLR, nghĩa là các khách hàng được cấp tín dụng theo đúng nhu cầu vốn sẽ trả nợ tốt hơn các khách hàng không đạt được số tiền vay như mong đợi.