Chương 1. Việc tìm ra các cách để giảm thiểu rủi ro tín dụng luôn là đề tài được quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu thị trường tài chính – ngân hàng trên khắp thế giới. Từ những mô hình đơn giản nhất cho đến những mô hình phổ biến như ngày nay là cả một chặng đường dài trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, đối với từng vị trí địa lý và văn hóa khác nhau thì việc ứng dụng các mô hình là khác nhau, cũng như việc kiểm định các nhân tố trong mô hình cũng khác nhau.
Vì vậy, trong bài nghiên cứu này, tác giả muốn tìm ra các nhân tố và mô hình nào sẽ phù hợp với Việt Nam nói chung và Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm thương mại, kinh tế lớn nhất cả nước nói riêng trong công tác giảm thiểu rủi ro tín dụng. 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐÉN RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – GIỚI THIỆU MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU.1 Khái niệm và cách thức đo lường rủi ro tín dụng.1 Rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm tín dụng Có thể hiểu tín dụng bằng các khái niệm sau đây: Tín dụng là một mối quan hệ xã hội, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa chủ thể kinh tế này với chủ thể kinh tế khác trên nguyên tắc có hoàn trả. Nói cách khác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người cho vay (người sở hữu) sang người đi vay (người sử dụng) và khi đến hạn phải hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn cái ban đầu. Khoản giá trị dư ra này được gọi là lợi tức tín dụng.
Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua các hình thái xã hội khác nhau. Hiểu một cách thông thường nhất, tín dụng là vay mượn. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Tín dụng, theo tiếng Latinh gọi là creditium, tiếng Anh gọi là credit, có nghĩa là sự vay mượn.
Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Qua đó, có thể hiểu tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Khoản chi phí này còn được gọi là lợi tức tín dụng.2 Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng có thể hiểu như sau: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh do khách hàng vay nợ không đủ khả năng trả nợ và lãi vay cho ngân hàng. 9 Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn.
Rủi ro tín dụng được hiểu là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng theo hợp đồng. Rủi ro tín dụng là rủi ro mà Ngân hàng có khả năng phải chịu tổn thất trong quá trình hoạt động kinh doanh. Rủi ro tín dụng xảy ra khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm gốc và/hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán.
Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. Tóm lại, có thể hiểu rằng, rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng phải chịu tổn thất khi người vay không trả được nợ và lãi vay cho ngân hàng.3 Phân loại rủi ro tín dụng Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh Rủi ro tín dụng được chia thành hai loại là rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk): - Rủi ro giao dịch: Là một dạng hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế, yếu kém trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. - Rủi ro danh mục: Là một dạng hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của Ngân hàng, được phân thành hai loại: rủi ro nội tại (Intrinsic) và rủi ro tập trung (Concentration risk).
+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố và các đặc điểm riêng có mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. + Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, hoặc trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. 10 Phân loại rủi ro theo khả năng trả nợ của khách hàng Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau: Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn và rủi ro do không có khả năng trả nợ: - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn (rủi ro đọng vốn): Khi các bên thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoảng thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên đến thời hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay, những tổn thất xảy ra trong trường hợp này người ta gọi đó là rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn.
- Rủi ro do không có khả năng trả nợ: là rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng đi vay đã mất khả năng chi trả. Do vậy ngân hàng phải thanh lý tài sản của khách hàng để thu nợ. Khi không thu được lãi đúng hạn, nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và chỉ cần đưa vào mục lãi treo phát sinh. Nếu ngân hàng không thể thu đủ lãi thì sẽ có khoản mục lãi treo đóng băng, trừ những trường hợp ngân hàng miễn giảm lãi đó cho doanh nghiệp.
Khi không thu được vốn đúng hạn, ngân hàng sẽ có khoản nợ quá hạn phát sinh. Tuy nhiên, khoản này vẫn chưa thể coi là khoản mất mát hoàn toàn của ngân hàng vì có thể bởi lý do nào đó mà doanh nghiệp chậm trả nợ gốc và sẽ trả sau hạn cam kết trong hợp đồng. Nếu khoản cho vay này ngân hàng không thể thu hồi được (ví dụ do doanh nghiệp bị phá sản) thì lúc này ngân hàng coi như gặp rủi ro tín dụng ở mức độ cao vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi, trừ những trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp vay vốn hội tụ đủ các điều kiện theo quy định về xóa nợ thì ngân hàng có thể xem xét để xóa nợ cho doanh nghiệp. Các nguy cơ xảy ra rủi ro như lãi treo thường được chú trọng nhiều hơn trong phân tích, đánh giá, còn lãi treo đóng băng và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro thực sự nên thường được xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học.2 Cách thức đo lường rủi ro tín dụng 11 Đo lường rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hoá mức độ các rủi ro cũng như biết được khả năng, xác suất xảy ra rủi ro, mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra để xem xét khả năng chấp nhận nó của ngân hàng.1 Mô hình định tính (truyền thống) - Mô hình 6C: Phương pháp này đi sâu vào nghiên cứu nhóm 6 chỉ tiêu sau: + Capacity (Năng lực trả nợ).
Đây là đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng. Ngân hàng cần phải biết làm thế nào khách hàng sẽ trả lại tiền trước chấp thuận cấp tín dụng. Năng lực trả nợ được đánh giá bởi một số thành phần, bao gồm: Dòng tiền là thu nhập mà doanh nghiệp tạo ra so với chi phí cần thiết để điều hành doanh nghiệp, được phân tích trong một khoảng thời gian cụ thể - thường là hai hoặc ba năm. Nếu là khách hàng mới khởi nghiệp, một báo cáo dòng tiền hàng tháng cho năm thứ nhất là cần thiết.
Lịch sử thanh toán đề cập đến tính kịp thời của khoản thanh toán đã được thực hiện đối với các khoản vay trước đó. Các nguồn dự phòng để trả nợ là các nguồn thu nhập bổ sung có thể được sử dụng để trả nợ. Chúng có thể bao gồm tài sản cá nhân, tài khoản tiết kiệm hoặc các tài sản khác có thể được sử dụng. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, thu nhập của vợ chồng làm việc bên ngoài doanh nghiệp thường được xem xét.
+ Capital (Cấu trúc vốn): Chủ sở hữu của một công ty phải có vốn đầu tư của mình vào công ty trước khi tổ chức tài chính sẵn sàng mạo hiểm đầu tư cho họ. Vốn chủ sở hữu có thể bị mất nếu doanh nghiệp thua lỗ. Lý do phổ biến nhất mà các doanh nghiệp mới thất bại là thiếu vốn. Tuy nhiên, hầu hết các ngân hàng muốn có ít nhất 25% nguồn vốn của công ty đến từ vốn chủ sở hữu.
Ngân hàng cũng nhìn nhận vốn chủ sở hữu như là chỉ báo của mức độ cam kết cũng như mức rủi ro của khách hàng đối với kinh doanh của mình. + Collateral (Tài sản thế chấp): Máy móc, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản từ hoạt động kinh doanh khác có tính thanh khoản đều được coi là tài sản thế chấp nếu người vay không trả được nợ. Hầu hết các khoản cho vay doanh nghiệp nhỏ cần phải có tài sản cá nhân của chủ sở hữu doanh nghiệp (như 12 nhà riêng hoặc ô tô) để được phê duyệt cấp tín dụng. Khi chủ doanh nghiệp sử dụng tài sản cá nhân của mình để đảm bảo khoản vay, điều này có nghĩa là ngân hàng có thể bán những tài sản cá nhân đó để đáp ứng bất kỳ khoản nợ chưa thanh toán nào.
Tài sản đảm bảo được coi là nguồn hoàn trả "thứ cấp" - các ngân hàng muốn tiền mặt để trả nợ, chứ không phải bán tài sản thế chấp. + Character (Nhân cách): Đây là đánh giá mang tính chủ quan cao đối với lịch sử của khách hàng.