Chương 1 tác giả đề cập đến những yếu tố cần thiết để thực hiện một đề tài nghiên cứu như: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đóng góp của luận văn. Tạo tiền đề cho việc trình bày cụ thể nghiên cứu ở các chương sau. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 Khái niệm cơ bản về tín dụng và tín dụng doanh nghiệp. Theo Giáo trình nghiệp vụ Ngân hàng thương mại của Trầm Thị Xuân Hương (2013), tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.
Trong khi theo giáo trình Tín dụng ngân hàng của Bùi Diệu Anh (2016) lại mô tả rõ hơi rằng: Tín dụng là một quan hệ ra đời gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hoá trong nên kinh tế. Tín dụng bắt nguồn từ chữ Credit – Creditum hay được hiểu đơn giản là một “quan hệ sử dụng sự tín nhiệm”. Có thể xem xét khái niệm tín dụng dưới nhiều góc độ và trong những bối cảnh khác nhau, chẳng hạn: trên thị trường tài chính, theo nguồn gốc lịch sử,… Khái niệm tín dụng có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ. - Tín dụng là sự trao đổi các tài sản hiện tại để nhận các tài sản cùng loại trong tương lai.
- Tín dụng là quan hệ mua bán quyền sử dụng vốn, giá cả là lãi suất. - Tín dụng là quan hệ kinh tế, theo đó một người thoả thuận để người khác sử dụng số tiền hay tài sản của mình trong một thời gian nhất định với các điều kiện có hoàn trả vốn và lãi. Một cách chung nhất, khái niệm tín dụng theo pháp luật ngân hàng Việt Nam ghi nhận rằng, tín dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm giữa bên cho vay (mượn) và bên đi vay (mượn). Theo đó, bên cho vay chuyển giao một lượng vốn tiền tệ (hoặc tài sản) để bên vay sử dụng có thời hạn.
Khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn (tài sản) ban đầu và lãi suất. 8 Liên quan đến khái niệm về tín dụng, có các định nghĩa về hoạt động tín dụng, cấp tín dụng, chúng ta cần phân biệt như sau: - Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng dưới các hình thức khác nhau. - Hoạt động cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật ngân hàng. Trong thực tế, có nhiều loại hình tín dụng tồn tại và trong đó tín dụng ngân hàng là loại hình được sử dụng rộng rãi.
Ngân hàng thương mại (NHTM) được xem là định chế trung gian, là “cầu nối” giữa nguồn cung và cầu vốn. NHTM huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các nhà đầu tư và sử dụng nguồn vốn này để cung cấp tín dụng đến với những người có nhu cầu sử dụng tín dụng. Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng ( ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. (Bùi Diệu Anh, 2016) Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng đặc trưng cho mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng.
Trong đó, NHTM đóng vai trò là người cung cấp tín dụng cho khách hàng qua các hình thức bằng tiền mặt hoặc tài sản trong một khoảng thời gian đã được ký thỏa thuận, cam kết với khách hàng đảm bảo trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn. Hoạt động tín dụng của ngân hàng hiện nay chia làm 2 mảng chính là tín dụng cá nhân và tín dụng doanh nghiệp. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Doanh nghiệp được chia theo quy mô thành: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn.
9 Cho vay đối với doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại là một hình thức cấp tín dụng theo đó NHTM giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi năm 2017, văn bản số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 có quy định: - Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. - Các hình thức của cấp tín dụng: • Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. • Nghị Định 39/2014 định nghĩa cho thuê tài chính là “một hoạt động cấp tín dụng trung hoặc dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê tài chính và bên thuê tài chính.
Bên cho thuê tài chính cam kết mua một tài sản cho thuê tài chính theo yêu cầu của bên thuê tài chính và nắm giữ quyền sở hữu tài sản theo hợp đồng cho thuê tài chính trong suốt thời hạn cho thuê. Bên thuê tài chính sử dụng tài sản theo hợp đồng cho thuê tài chính trong suốt thời gian thuê được quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính". • Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. 10 • Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.
• Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. • Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.2 Bản chất và nguyên tắc của tín dụng Võ Đình Toàn và cs (2017), về bản chất của tín dụng, hoạt động này mang các dấu hiệu đặc trưng như sau: - Quan hệ tín dụng thiết lập trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm. Chủ thể tham gia vào quan hệ này gồm ít nhất là 2 bên: bên cho vay và bên đi vay. - Tín dụng là quan hệ chuyển giao để sử dụng có thời hạn.
- Hình thức pháp lý của hoạt động vay mượn giữa các bên được thể hiện thông qua hợp đồng vay tài sản, thông thường, tài sản này được biểu hiện dưới dạng một lượng tiền tệ nhất định. Như vậy, đối tượng của quan hệ tín dụng là vốn tiền tệ, trong một số trường hợp khác có thể là tài sản (tín dụng thuê mua). - Vốn là một “hàng hóa” đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Các quan hệ tín dụng phát sinh từ nhu cầu về vốn của nền kinh tế.
Tín dụng phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản: - Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích - Nguyên tắc hạn chế rủi ro, khắc phục tổn thất. - Nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi. - Nguyên tắc cho vay phải bảo đảm 11 2.3 Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng Theo tác giả Trầm Thị Xuân Hương (2013), tín dụng NHTM có 5 đặc điểm chính: Thứ nhất là tính hoàn trả vô điều kiện. Để đáp ứng cho nhu cầu vốn tín dụng kịp thời, ngân hàng phải tìm cách huy động vốn từ các nhà đầu tư trong kinh tế.
Chính vì thế, việc thu hồi vốn tín dụng từ việc cho vay là một điều tất yếu của hoạt động tín dụng. Các chứng từ được hình thành trong quan hệ tín dụng ngân hàng như hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, khế ước nợ,… đều thể hiện nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn. Đây chính là những ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình sử dụng tín dụng ngân hàng. Thứ hai, khi chuyển giao vốn tín dụng, ngân hàng chỉ chuyển giao quyền sử dụng vốn tín dụng chứ không chuyển đổi quyền sở hữu vốn.
Vì vậy, các khách hàng vay vốn tín dụng phải trợ nợ lãi và gốc theo đúng như kỳ hạn. Tiền lãi phải trả chính là chi phí mà ngân hàng dùng trong hoạt động vốn tín dụng. Tuy nhiên để đảm bảo hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi, trong nghiệp vụ tín dụng phải cân nhắc 2 yếu tố căn bản là: - Xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng phải hợp lý. - Chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hoà giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và được nền kinh tế chấp nhận.
Thứ ba, hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất và đồng thời mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng. Tuy nhiên, bên cạnh việc đem lại thu nhập cao nhất, tín dụng cũng mang lại rủi ro cao nhất. Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi một trong hai yếu tố: khả năng trả nợ và/ hoặc thiện chí trả nợ không được hình thành đầy đủ.