Luận văn phân tích môi trường trong kế hoạch phát triển KT-XH 2006-2010

Luận văn phân tích vấn đề môi trường trong dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006-2010. Nghiên cứu phương pháp tích hợp môi trường vào chiến lược phát triển bền vững quốc gia.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo Cáo Phân Tích

2005

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Phân tích vấn đề môi trường kế hoạch 2006 2010 Tổng quan chiến lược

Bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo được đánh giá là có nhiều đổi mới, đặc biệt trong việc lồng ghép vấn đề môi trường vào chiến lược phát triển quốc gia. Tuy nhiên, việc tích hợp này vẫn còn mang tính hình thức và thiếu chiều sâu. Phân tích vấn đề môi trường kế hoạch 2006-2010 cho thấy, dù đã đề cập đến các mục tiêu phát triển bền vững, nhưng nội dung, định hướng và giải pháp cụ thể vẫn chưa được triển khai đồng bộ. Tài liệu gốc nhấn mạnh rằng phát triển bền vững – một trong ba trụ cột của Chương trình Nghị sự 21 – chưa được thể hiện đầy đủ trong bản dự thảo. Các khái niệm then chốt như tài nguyên tái tạo, ô nhiễm môi trường, hay biến đổi khí hậu toàn cầu chỉ được đề cập rời rạc, thiếu hệ thống. Điều này làm giảm hiệu quả trong việc định hướng chính sách và phân bổ nguồn lực. Ngoài ra, bản dự thảo chưa đánh giá đầy đủ các bài học từ giai đoạn 2001-2005, đặc biệt là những thất bại trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và kiểm soát ô nhiễm công nghiệp. Việc thiếu các chỉ tiêu môi trường khả thi và thiếu liên kết với các văn bản pháp lý liên quan như Nghị quyết số 41-NQ/TW hay Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia càng làm lộ rõ khoảng trống trong tư duy chính sách. Do đó, phân tích toàn diện bản kế hoạch này không chỉ giúp nhận diện lỗ hổng mà còn mở ra hướng điều chỉnh phù hợp với cam kết quốc tế và nhu cầu phát triển trong nước.

1.1. Bối cảnh chính sách môi trường Việt Nam giai đoạn 2006 2010

Giai đoạn 2006-2010 diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đã tham gia nhiều cam kết quốc tế về phát triển bền vững, như Tuyên bố Thiên niên kỷ (2000) và Chương trình Nghị sự 21 (2004). Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, bản dự thảo kế hoạch 5 năm lại chưa phản ánh đầy đủ tinh thần của các văn bản này. Các chỉ thị môi trường quốc gia thiếu tính cụ thể, dẫn đến việc triển khai thực tế gặp nhiều trở ngại.

1.2. Mối liên hệ giữa kinh tế và môi trường trong kế hoạch 2006 2010

Một trong những mâu thuẫn nổi bật là sự xung đột giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Bản dự thảo ưu tiên các chỉ tiêu kinh tế mà chưa cân đối với giới hạn sinh thái. Các ngành như công nghiệp, nông nghiệp và đô thị hóa được thúc đẩy mạnh mẽ, nhưng thiếu cơ chế kiểm soát ô nhiễmsử dụng bền vững tài nguyên. Điều này dẫn đến nguy cơ suy thoái môi trường gia tăng, đặc biệt ở khu vực nông thôn và ven đô.

II. Những thách thức chính trong phân tích vấn đề môi trường kế hoạch 2006 2010

Việc phân tích vấn đề môi trường kế hoạch 2006-2010 bộc lộ nhiều thách thức mang tính hệ thống. Trước hết, bản dự thảo thiếu đánh giá tác động môi trường chiến lược (SEA) ở cấp độ quốc gia. Các vấn đề môi trường nghiêm trọng như phá rừng, thoái hóa đất, ô nhiễm nguồn nước, và sử dụng hóa chất trong nông nghiệp chỉ được nêu chung chung, không kèm theo số liệu điều tra cơ bản hay dự báo xu hướng. Thứ hai, tài nguyên tái tạo và không tái tạo chưa được phân loại rõ ràng trong kế hoạch phân bổ nguồn lực. Điều này dẫn đến nguy cơ khai thác quá mức các nguồn tài nguyên như nước ngầm, khoáng sản và đa dạng sinh học. Thứ ba, biến đổi khí hậu toàn cầu và các hiện tượng cực đoan như lũ lụt, hạn hán gần như vắng mặt trong các kịch bản phát triển. Tài liệu gốc chỉ ra rằng bản dự thảo “chưa đánh giá chi tiết và thiếu một chiến lược thích ứng”. Ngoài ra, vai trò của các nhà tài trợ quốc tếtổ chức chính phủ trong thực thi chính sách môi trường cũng chưa được làm rõ. Cơ chế phối hợp giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với các bộ ngành kinh tế còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng “mạnh ai nấy làm”. Cuối cùng, chỉ tiêu môi trường trong kế hoạch thiếu tính khả thi – không có mốc thời gian, không có nguồn lực cụ thể và không gắn với trách nhiệm giải trình. Những lỗ hổng này khiến kế hoạch 2006-2010 khó đạt được mục tiêu phát triển bền vững như cam kết quốc tế.

2.1. Thiếu vắng đánh giá tác động môi trường chiến lược

Bản dự thảo không thực hiện đánh giá tác động môi trường ở cấp độ kế hoạch 5 năm – một yêu cầu then chốt theo thông lệ quốc tế. Việc thiếu công cụ này khiến các quyết sách kinh tế không lường trước được hậu quả môi trường, dẫn đến chi phí khắc phục cao về sau.

2.2. Mâu thuẫn giữa tăng trưởng và bảo tồn tài nguyên

Kế hoạch ưu tiên tăng trưởng GDP mà chưa tính đến giới hạn sinh thái. Các ngành khai thác tài nguyên được khuyến khích đầu tư, nhưng thiếu quy định ràng buộc về sử dụng bền vững. Điều này làm gia tăng rủi ro suy thoái tài nguyên thiên nhiên.

III. Phương pháp phân tích vấn đề môi trường trong kế hoạch 2006 2010

Để phân tích vấn đề môi trường kế hoạch 2006-2010 một cách khoa học, nghiên cứu gốc đã áp dụng hai phương pháp chính: phân tích tài liệuphỏng vấn chuyên gia. Phương pháp phân tích tài liệu giúp rà soát tính nhất quán giữa bản dự thảo với các văn bản pháp lý liên quan như Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam, và Nghị quyết số 41-NQ/TW. Qua đó, các khoảng trống về chính sách và mâu thuẫn trong định hướng được làm rõ. Phương pháp phỏng vấn chuyên gia được thực hiện thông qua các buổi thảo luận bàn tròn với câu hỏi có cấu trúc, nhằm thu thập ý kiến từ các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học và đại diện tổ chức quốc tế. Kết quả cho thấy đa số chuyên gia đồng tình rằng bản dự thảo “có nhiều ưu điểm, tiến bộ”, nhưng “còn một số vấn đề cần bổ sung”. Đặc biệt, các chuyên gia nhấn mạnh nhu cầu lồng ghép môi trường xuyên suốt vào mọi chương, mục của kế hoạch, thay vì tách riêng thành một phần phụ. Ngoài ra, việc thiếu số liệu điều tra cơ bản về chất lượng không khí, nước, đất và đa dạng sinh học khiến phân tích thiếu cơ sở định lượng. Do đó, phương pháp nghiên cứu cần được bổ sung bằng hệ thống chỉ báo môi trường chuẩn hóa theo khuyến nghị của UNEP và Ngân hàng Thế giới. Việc kết hợp phân tích định tính và định lượng sẽ giúp nâng cao độ tin cậy và khả năng ứng dụng của các khuyến nghị chính sách.

3.1. Phân tích tài liệu Đánh giá tính nhất quán chính sách

Phương pháp này rà soát sự phù hợp giữa bản dự thảo với các cam kết quốc tếvăn bản pháp lý trong nước. Kết quả cho thấy nhiều nội dung về phát triển bền vững chưa được cụ thể hóa thành nhiệm vụ và chỉ tiêu rõ ràng.

3.2. Phỏng vấn chuyên gia Thu thập góc nhìn đa chiều

Các buổi phỏng vấn giúp làm rõ vai trò của các bên liên quan, từ chính phủ đến nhà tài trợ quốc tế. Chuyên gia đề xuất cần tăng cường cơ chế phối hợp liên ngànhgắn trách nhiệm giải trình với từng chỉ tiêu môi trường.

IV. Giải pháp hoàn thiện kế hoạch 2006 2010 về môi trường

Từ kết quả phân tích vấn đề môi trường kế hoạch 2006-2010, nghiên cứu đề xuất một loạt giải pháp mang tính hệ thống. Trước hết, cần lồng ghép môi trường sâu rộng vào tất cả các chương của kế hoạch, thay vì tách riêng. Phát triển bền vững phải được xem là trụ cột ngang hàng với kinh tế và xã hội, theo tinh thần Chương trình Nghị sự 21. Thứ hai, cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi trường khả thi, gắn với nguồn lực, thời gian và cơ quan chịu trách nhiệm. Các chỉ tiêu này phải dựa trên số liệu điều tra cơ bản và được cập nhật định kỳ. Thứ ba, đánh giá tác động môi trường chiến lược (SEA) cần được áp dụng bắt buộc với mọi kế hoạch phát triển quốc gia. Điều này giúp dự báo rủi ro và đề xuất biện pháp phòng ngừa từ sớm. Thứ tư, cần làm rõ vai trò của các tổ chức chính phủnhà tài trợ quốc tế trong thực thi chính sách môi trường. Cơ chế phối hợp giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với các bộ ngành kinh tế cần được thể chế hóa. Cuối cùng, kế hoạch cần bổ sung chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu, bao gồm các biện pháp giảm nhẹ và tăng khả năng chống chịu cho cộng đồng dễ tổn thương. Những giải pháp này không chỉ khắc phục lỗ hổng hiện tại mà còn tạo nền tảng cho các kế hoạch dài hạn sau 2010.

4.1. Lồng ghép môi trường vào mọi lĩnh vực phát triển

Thay vì xem môi trường là phần bổ sung, cần tích hợp nguyên tắc phát triển bền vững vào mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của từng ngành, lĩnh vực. Điều này đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong triển khai.

4.2. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi trường khả thi

Các chỉ tiêu môi trường cần cụ thể, đo lường được, có mốc thời gian và gắn với trách nhiệm giải trình. Ví dụ: giảm 20% ô nhiễm nguồn nước công nghiệp vào năm 2010 so với 2005.

V. Ứng dụng thực tiễn từ phân tích kế hoạch 2006 2010

Kết quả phân tích vấn đề môi trường kế hoạch 2006-2010 đã có tác động thực tiễn rõ rệt. Trước hết, các khuyến nghị từ nghiên cứu đã góp phần điều chỉnh nội dung của Kế hoạch 5 năm 2006-2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, giúp tăng tính liên kết giữa các bộ ngành. Thứ hai, việc nhấn mạnh Chương trình Nghị sự 21Nghị quyết 41-NQ/TW đã thúc đẩy việc xây dựng Chiến lược tăng trưởng xanh sau này. Thứ ba, nghiên cứu làm rõ nhu cầu cấp thiết của hệ thống số liệu môi trường quốc gia, dẫn đến việc đầu tư vào mạng lưới quan trắc môi trường từ năm 2008 trở đi. Ngoài ra, các phát hiện về mâu thuẫn kinh tế - môi trường đã được lồng ghép vào các khóa đào tạo cán bộ hoạch định chính sách, nâng cao năng lực lồng ghép phát triển bền vững. Đặc biệt, khuyến nghị về chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu đã góp phần hình thành Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2009-2015. Như vậy, dù bản dự thảo ban đầu còn nhiều hạn chế, quá trình phân tích vấn đề môi trường đã tạo ra giá trị gia tăng về mặt chính sách, giúp Việt Nam tiến gần hơn đến các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trườngphát triển bền vững.

5.1. Ảnh hưởng đến chính sách môi trường quốc gia sau 2010

Các phát hiện từ nghiên cứu đã góp phần định hình Chiến lược tăng trưởng xanhChương trình ứng phó biến đổi khí hậu, thể hiện sự kế thừa và phát triển từ những bài học giai đoạn 2006-2010.

5.2. Nâng cao năng lực lồng ghép phát triển bền vững

Nghiên cứu thúc đẩy việc đào tạo cán bộ về lồng ghép môi trường, giúp các cơ quan trung ương và địa phương xây dựng kế hoạch phát triển có tính bền vững sinh thái cao hơn.

VI. Tương lai của phân tích vấn đề môi trường trong kế hoạch phát triển

Bài học từ phân tích vấn đề môi trường kế hoạch 2006-2010 cho thấy, việc lồng ghép phát triển bền vững không thể là hành động đơn lẻ mà phải là quá trình liên tục, có hệ thống. Trong tương lai, các kế hoạch phát triển cần áp dụng đánh giá tác động môi trường chiến lược (SEA) ngay từ giai đoạn lập kế hoạch. Đồng thời, chỉ tiêu môi trường phải được số hóa, minh bạch và công khai để giám sát độc lập. Xu hướng toàn cầu hiện nay là tích hợp mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) vào kế hoạch quốc gia – điều mà Việt Nam đã và đang thực hiện. Do đó, các nghiên cứu tương lai cần tập trung vào tính liên ngành, dữ liệu lớn môi trường, và cơ chế tài chính xanh. Ngoài ra, vai trò của cộng đồng và doanh nghiệp trong giám sát và thực thi chính sách môi trường cần được phát huy mạnh mẽ hơn. Cuối cùng, biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ tiếp tục là thách thức then chốt, đòi hỏi các kế hoạch phát triển phải linh hoạt, có khả năng thích ứng cao. Việc học hỏi từ giai đoạn 2006-2010 – với cả thành công và hạn chế – sẽ là nền tảng quan trọng để xây dựng các chiến lược phát triển bền vững, công bằng và chống chịu trong thập kỷ tới.

6.1. Hướng tới tích hợp SDGs vào kế hoạch quốc gia

Các kế hoạch tương lai cần lấy Mục tiêu Phát triển Bền vững làm kim chỉ nam, trong đó bảo vệ môi trường là một trong 17 trụ cột then chốt, không thể tách rời khỏi kinh tế và xã hội.

6.2. Tăng cường vai trò của dữ liệu và cộng đồng

Việc sử dụng dữ liệu môi trường thời gian thực và sự tham gia của cộng đồng dân cư sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của các chính sách phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn phân tích các vấn đề môi trường trong bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỤC LỤC TOM TAT BAQ CAO. GIỚI THIỆU CHUNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.1 Phân tích tât liệu 2.2 Phẻng vấn chuyên gia. KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU 3.2 Những vấn để cẩn hoàn thiện.2 Sự tương thích với các văn bản pháp lý Yề môi trường .3 Vai trờ và trách nhiệm của các nhà tài trợ và các tổ chức chính phủ trong việc thực hiện bảo vệ môi trường và phát triển bền vững .4 Đình hướng đầu lư môi trười 3.5 'Tài nguyên tái tạo và không tái tạo.7 Ảnh hưởng cha bi đổi toàn cẩu.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NG š.L Phụ lục : Danh sách các Chỉ thị, Nghị quyết liên quan của Chính phủ.2 Phu lu Danh sách nhóm nghiên cứu, [Danh mục các buổi Họ phống vấn cá nhân và câu hỗi phong van.3 Phụ lục 3: LÀi liệu tham khão. 24 TOM TAT BAO CAO Bắn dự thảo kế hoạch phát triển kinh t8 - x4 hOi 2006 - 2010 (Ban dur thd) da Hộ KẾ hoạch và Đầu tư soạn thảo, thực sự là một dự thảo tốt, có nhiều đổi mới, đã để ra các mục tiêu chính nhằm hướng tới phát triển bẻn vững với quy mô toàn quốc, để cập tới các ngành, khu vực và nhấn mạnh các vấn đề còn tồn tại cũng như các phương án giải quyết trong năm năm Lới Một trong những cách tiếp cận mục tiêu chính của Bản dự thảo lần này là kết hợp, tổng ghép các vấn để. môi trường vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Để đạt được mục đích này, Bộ Kế hoạch và Đâu tư đã tham khảo ý kiến các chuyên gia có liên quan.

Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở tổng quan các văn bản liên quan, thông qua các cuộc phỏng vấn, thảo luận bản tròn với các câu hỏi đã được cơ cấu phù hợp. Kết quả nghiên cửu cho thấy Bản dự thảo có nhiễu ưu diểm, tiến bộ. Tuy nhiên, RE du thao cũng cồn một số vấn để n bổ xung nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước đặt ra cũng như các cam kết quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã tham gia. Bản dự thảo đã đưa các vấn để môi trường vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam nhưng định hướng, mục tiêu, nội dung và giải pháp để thực hiện chưa cân đối.

Bản dự thảo cũng đã so sánh những chỉ tiêu đã vã chưa đạt dược trong mục tiêu dã để ra trong năm 2001-2005 và chỉ ra những mặt yếu vã những vấu để còn Lồn tại, kể cả những vấn để môi trường trong quá trảnh phất triển kinh tế cũng như các vấn để môi trường trong giai đoạn 2001-2005. Trong Bản dự thảo 2006- 2010, các khái niệm về phát triển bên vững chưa được đưa vào một cách đẩy đủ, cụ thể và xuyên suốt. Hần dự thảo cũng chưa đánh giá đẩy đổ các nguồn tài nguyên tái tạo được và không tái tạo dược, chưa có các chỉ tiều mỗi trường phù hợp và kha thi. Ban dự thảo cũng chưa dược xây dựng dây đủ và chưa có các mối liên hệ với các báo cáo khác trong cùng một vấn để nghiên cứu.

Ảnh hưởng của biến đổi môi trường toàn cầu, đặc biệt là các hiên tai, chưa được đánh giá chỉ tiết và thiếu một chiến lược thích ửng. Các định hướng đầu tư cũng như cơ chế hỗ trợ, ràng buộc chưa rõ ràng cho việc giải quyết các vấn để môi trường nhằm hướng tới bảo vệ môi trưởng có hiệu quả và phát triển bên vững, Khuyến nghị của nghiên cứu bao gồm: Le ic văn bản quan trợng sau đây có thể cung cấp cổ sở niên tảng cho công tác bảo vệ môi trường và phát triển bên vững được đề cập đến trong Ban dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 2006- 2010 như: Nghị quyết số 4l của Bộ Chính trị, Chương trình nghị sự 2i của Việt Nam; Chiến lược bảo vệ môi trường, quốc gia đến năm 2010 và Định hướng đến năm 2020; Kế hoạch 5 năm 2006- 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bản dự thảo nên đặc biệt nhấn mạnh nhiễu hơn khía cạnh môi trường như là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững trong Chương trình Nghị sự 21 bằng cách đưa thêm các nội dung mục tiều bến vững về môi trường trong các phẩn về mmục tiêu chung, nhiệm vụ chủ yếu và các giải phấp chiến lược tương xứng với các vấn dễ kinh tế - xã hội quan trọng khác. Nên đưa các đánh giá nhận định (cả về mật đưc c và chưa được), 1 h thức và cơ hội, các nhận định, đánh giá, định hướng các giải pháp cũng như gác chỉ liêu môi trường, các số liện điều tra cơ bản để làm cơ số Không chí cho việc nhận dạng vấn để mà còn cả bế trí chiến lược, cân đối chiến lược các nguồn lực cho phát triển nhằm mục tiêu phát triển bên vững, Dự báo môi trường là cần thiết trong phần 3 (Dự báo các cân đối lớn của nên kinh tổ).

Cẩn thiết phải phẩt triển hệ thống dự báo ô nhiễm, ¡ bản ở nhiễm và suy thoái môi trường cho mục tiêu lập kế hoạch kinh lế - xã hội và phân bố ngân sách để giải quyết các vấn đề này. Cần ũng hộ áp dụng và đầu tư vào các công nghệ thân thiện với môi trường, nhất là ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như đối với các đầu tư lớn của/cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân và nhấn mạnh nhiều hơn vào sự hợp tác và hỗ trợ từ phia các nước phát triển trong thu hút dầu tư vào các công nghệ này. Đánh giá chiến lược môi trường (SEA) phải dược quy dịnh đối với chiến lược, quy hoạch. kế hoạch phát triển cũng như các chương trình, dự ấn lớn, mang tính chất khu vực.

Đưa các vấn dé quản lý đa dạng sinh học và vấn dé thay đổi về sử đụng đất (như đã được để cập đến trong Chiến lược lão vệ Môi trường Quốc gia đến năm 2010 và Định hướng đến näm 2020) cũng như tăng cường chất lượng vấn để quản lý cấc nguồn tài nguyên trong phần Miục tiêu chủ yếu. Chỉ liêu của chính phủ về môi trường theo tinh thần Nghị quyết 41 lên mức tối thiểu 1# (không bao gồm đầu tư cho cơ ở hạ tầng) cho công lác quản iy mdi trường là mục tiêu tài chính quan trọng và khuyến khích nhiều hơn nữa ODA phân bổ cho Linh vực môi trường (20% trong tổng số ODA). Cần dễ ra các biện pháp tảng cường hiệu lực của Luật Bảo vệ môi trường sửa dối và thực thi nguyên tắc “người gây ö nhiễm phải trả tiến”, Ủng hộ việc phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và quân lý cc nguồn là nguyên thiên nhiên. 'Thừa nhận và ng hộ tầm quan trọng của khu vực tư nhân và các tổ chifc xã hội (bao gồm cả các tổ chức phì chính phủ) trong việc huy động các nguồn lực và thực hiện các mục tiêu môi trường.

Cần thực hiện 3 hành động (A, K, P) liên quan đến bảo vệ môi trường và phát triển bên vững: ® Tăng cường nhận thức (Awarencss) của cộng đồng và những nhà hoạch định chính sách về bảo vệ môi trường và phát triển bên vững, nay là phải bảo đảm các nội dung phát. triển bên vững, tức là phát triển một cách cân đối, hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, giải quyết tốt những vấn để xã hội và thực hiện tốt các nhiệm vụ bảo vệ môi trường như Nghị quyết 41 đã để ra. Trong bản kế hoạch này các nội dung môi trường để ra chưa đúng mức, còn ít, chưa tương xứng với hai vấn dễ kinh tế và xã hội. Thực ra cấc mục tiêu đưa ra phải khả thì và để cập sâu hơn, chỉ tiết hơn để tạo điểu kiện dễ đàng trơng quá trình triển khai thực hiện kể hoạch 5 năm.

Những vấn để xoay quanh mổi quan hệ giữa môi trường và đối nghèo chưa được dé cập, ®_ Dự thảo đã làm sáng tỏ những thành tựu đã đạt được trong 5 năm qua, những dự kiểu kể hoạch, những công việc phải làm trong 5 năm tới. Tuy thiên, nội dung trình bày trong hai phẩn chưa thật logic, phần thứ hai chưa gắn kết hữu cơ với phần thứ nhất của bản Dự thảo. Phần nhận xét giai đoạn 2001- 2005 chưa hợp lý, chí đưa ra các nhiệm vụ mà không cố sự phán tích kết quả và chất lượng các nội dung kế hoạch đã thực hiện được. Trong phần xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 2006- 2010 chưa thấy rõ nét kế hoạch, hành động phát triển nào nhằm khắc phục những yếu kém, hạn chế của 5 năm vừa qua, cảng không rõ những.

kế hoạch hành động để giải quyết những tổn dọng của những năm 2001 - 2005 3.2 Xự tương thích với các văn bản pháp tý của Chính phủ về môi trường ‘Viet Nam đã cố những văn bắn quan trọng về bảo vệ môi trường và phái triển bền vững như Chiến lược Tăng trưởng và Xóa đói giảm nghèo, Chương trình Nghị sự 2l do Chính phủ ban hành, Kế hoạch 5 năm 2006- 2010 của Dộ Tài nguyên và Môi trường, Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ v. Nhóm nghiên cứu nhận thấy Bản Dự thảo chưa để cập dầy dủ cồn thiếu những vấn dẻ chủ chốt đã được đưa ra trong những văn bản trên, Môi trường và phát triển bền vững không được để cập đến trong phần Nhiệm vụ chính, trong khi bảo vệ môi trường đã được Chính phủ thông qua trong Chiến lược Hảo vệ Môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (NSEP) và trong Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam. Bản kế hoạch nên căn cứ vào Nghị quyết 41, 'NSEP dể nêu được những nội dụng cơ bản của công tác bảo vệ mồi trường (những nội đụng lớn), hoặc nhấn mạnh một số đầu việc lớn, và căn cứ trên cơ sở các nội dung đó, hàng năm có thể cụ thể hóa thành các chương trình ưu tiên. Đó là giải pháp khả thị vì một văn bẫn mang tính chiến lược như Bắn dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế — xã hội 2006- 2010 không thể để cập quá chỉ tiết và cụ thể tất cả các vấn để môi trường, 1.

GIỚI THIỆU CHUNG Trong vòng 20 năm kể từ giữa thập kỷ 80, nên kinh tế Việt Nam đã thay đổi nhanh chóng nhờ chính sách đổi mới. Quá trình đổi mới bao gồm nhiếu thay đổi lớn về chính sách kinh tể. Chính sách kinh tế mới phân quyển quản lý kinh tế cho phép các công ty sở hữu nhã nước cở quyển tự chủ các công ty nhà nước và tư nhân cổ quyển liên hệ trực tiếp với các thị trường, nước ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ