CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU Nút khung bê tông cốt thép là một trong những bộ phận kết cấu dễ bị hư hại nhất của công trình nhà cao tầng bằng bê tông cốt thép (BTCT) đặc biệt là khi công trình chịu tải trọng rung lắc ngang do động đất hoặc do gió bão lớn. Sự phá hủy của nút khung thường dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của công trình vì phá hoại tại nút khung thường dẫn đến sự mất ổn định của hệ thống cột trong công trình (Hình 1-1). Công trình bị phá hủy do động đất ở Đài Loan Để đảm bảo sự dẻo dai của nút khung khi chịu tải ngang, đặc biệt là tải trọng rung lắc do động đất, các tiêu chuẩn thiết kế (352R-02, 2002; ACI318R, 2008; AIJ, 1999; NZS-3101, 1995) yêu cầu phải tính toán, cấu tạo cốt thép đai và cốt thép dọc tại nút khung.
Ngoài ra, các qui định về cấu tạo cốt thép tại nút khung đặc biệt là cấu tạo của cốt thép dầm neo vào cột cũng được qui định chặt chẽ. Bên cạnh các qui định về cấu tạo, các tiêu chuẩn thiết kế còn yêu cầu phải kiểm tra khả năng chịu cắt của nút khung và việc kiểm tra này nhằm đảm bảo nguyên tắc là khi có lực ngang lớn thì khả năng chịu lực cắt của nút khung phải đủ lớn để đảm bảo rằng phá hoại nếu có sẽ xảy ra đối với dầm ở vị trí bên ngoài nút khung (Hình 1-2). Nút dầm cột bị phá hoại do động đất (Kocaeli và Izmit, Turkey,1999) Để phục vụ cho việc tính toán khả năng chịu lực của nút khung sử dụng sợi thép, một số tác giả đã đề xuất công thức tính (Somma, 2010; Liu và Cong, 2006). Tuy nhiên, 1 hầu hết là dựa trên kết quả thực nghiệm của một số lượng mẫu thí nghiệm rất hạn chế.
Thực tế này cho thấy, việc đề xuất một mô hình tính toán cơ học thể hiện được bản chất vật lý để mô phỏng ứng xử và dự đoán được khả năng chịu lực của nút khung bê tông cốt sợi nhằm phục vụ cho công tác thiết kế là thật sự cần thiết. Nghiên cứu này áp dụng phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH) để mô phỏng và phân tích ứng xử của nút khung BTCT có sử dụng sợi thép. Kết quả từ phương pháp PTHH bước đầu được so sánh với kết quả thực nghiệm để kiểm tra tính chính xác của phương pháp. Dựa vào phương pháp này, sau đó ảnh hưởng của các tham số như hàm lượng thép đai, hàm lượng sợi thép và giá trị lực dọc đối với sự làm việc của nút sẽ được khảo sát chi tiết.
Ngoài ra, một mô hình thanh chống-giằng đơn giản cũng được đề xuất để mô phỏng ứng xử và dự đoán khả năng chịu lực của nút khung BTCT dùng sợi thép chịu tác dụng của tải trọng ngang. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Sơ lược về bê tông sợi thép Bê tông cốt sợi là loại bê tông đặc biệt được chế tạo từ hỗn hợp xi măng, cốt liệu, nước, phụ gia và sợi gia cường riêng rẽ. Sợi phân tán ngẫu nhiên hoặc sợi liên tục, phân bố theo một hoặc hai phương được đưa vào trong bê tông nhằm cải thiện và tăng cường các tính chất cho bê tông, phù hợp sử dụng cho các công trình có yêu cầu cao về khả năng chịu kéo, chịu uốn, chịu va đập, dẻo dai và ít co ngót của bê tông tươi.
Dưới tác dụng của lực kéo, bê tông sợi thép sẽ bị phá hoại khi sợi thép bị đứt gãy hoặc bị kéo tuột ra khỏi bê tông (Hình 2-1). Sự phá hủy của bê tông sợi thép Sợi thép được sử dụng trong hỗn hợp bê tông có chiều dài từ 7 đến 80mm, tỉ lệ chiều dài trên đường kính từ 20 đến 100. Sợi thép có nhiều hình dạng khác nhau: dạng thẳng, dạng có gờ và dạng lượn sóng (Hình 2-2). Khả năng bám dính và cường độ là hai đặc tính quan trọng của sợi thép.
Khả năng bám dính phụ thuộc vào tỉ lệ chiều dài sợi thép trên đường kính thép và dạng hình học của sợi. Đặc tính của bê tông sợi thép phụ thuộc vào đặc tính của bê tông (cường độ và mô đun đàn hồi), đặc tính của sợi thép (hàm lượng, cường độ, mô đun đàn hồi và khả năng bám dính của sợi thép). Một số loại sợi thép Sợi thép dẹt và lượn sóng có diện tích tiếp xúc lớn, uốn lượn tạo nên cơ chế neo nhiều điểm dọc sợi. Cơ chế neo này rất bền vững, hạn chế dịch chuyển tương đối của sợi so với vật liệu nền không chỉ theo phương dọc trục của sợi mà cả theo phương vuông góc với trục của sợi.
Các sợi thép nhỏ phân bố trong bê tông không chỉ làm tăng độ bền nén, mà còn làm tăng các độ bền khác (kéo, uốn, xoắn, cắt), tăng độ dẻo và độ dai (chống chịu va chạm), giảm tính giòn của bê tông, giảm biến dạng do co ngót và do từ biến. Để tăng khả năng chống nứt, một mặt do cơ tính tổng hợp tăng và co ngót giảm nên làm giảm rõ rệt khả năng phát sinh các vết nứt, măt khác quan trọng hơn đó là các sợi thép nhỏ đóng vai trò như rất nhiều cái ba-ri-e (thanh chặn) chắn ngang hướng phát triển của các vết nứt nhỏ, ngăn chặn không cho chúng phát triển dài hơn và rộng hơn (Hình 2-3). Sự phân bố sợi thép trong bê tông So với bê tông truyền thống, sử dụng sợi thép với hàm lượng 1.5% không làm tăng đáng kể cường độ chịu nén của bê tông (0 đến 15%), nhưng làm tăng đáng kể cường độ chịu kéo của bê tông (30% đến 40%). Ngoài ra, khả năng kháng cắt có thể tăng đến 30% ứng với hàm lượng sợi thép 1%.
Nghiên cứu thực nghiệm nút dầm-cột có sử dụng sợi thép Gefken và Ramey (1989) khảo sát thực nghiệm ứng xử của nứt khung biên có sử dụng sợi thép chịu tải trọng ngang (Hình 2-4). Thí nghiệm được tiến hành trên 10 mẫu có kích thước hình học giống nhau. Hàm lượng sợi thép trong các mẫu như nhau và bằng 2% (tính theo thể tích). Sợi thép sử dụng trong thí nghiệm thuộc dạng sợi thẳng, tiết diện tròn.
Chiều dài và đường kính sợi thép lần lượt là 25 mm và 0. Các kết quả về tính dẻo, tải trọng giới hạn và bề rộng vết nứt của những nút khung sử dụng sợi thép được so sánh với nút khung BTCT truyền thống. Kết quả cho thấy rằng sử dụng sợi thép trong nút khung không chỉ tăng khoảng cách cốt đai mà còn có thể bỏ cốt đai, tăng tính dẻo tốt hơn và tăng khả năng chịu lực so với mẫu nút khung BTCT truyền thống. Cấu tạo nút khung trong thí nghiệm của Gefken và Ramey (1989) Tang và cộng sự (1992) thực hiện nghiên cứu thực nghiệm trên 5 mẫu nút khung biên và 7 mẫu nút khung giữa chịu tác động của tải trọng đứng điều hòa (Hình 2-5).
Thí nghiệm sử dụng hai loại sợi thép khác nhau: (i) sợi thép hình chữ nhật dài 25-30mm, có kích thước tiết diện 4×4 mm và 5×5mm, được cắt ra từ những tấm thép có hàm lượng carbon thấp; và (2i) sợi thép tròn có đường kính 0.8 mm dài 50-55mm. Dựa trên kết quả thí nghiệm, tác giả đã đề xuất một công thức để xác định khả năng kháng cắt của sợi thép có dạng như sau: Ngoài ra, kết quả thí nghiệm cho thấy sử dụng sợi thép làm tăng khả năng kháng nứt cắt và khả năng hấp thụ năng lượng. Với những mẫu nút khung biên, sự trượt của thép dọc trong nút có cốt sợi giảm nhiều so với nút không sợi (8 mm xuống còn 70. Với những mẫu nút khung giữa, sợi thép tăng khả năng bám dính và khả năng neo của cốt thép dọc.
Hình dạng và cấu tạo mẫu thí nghiệm trong nghiên cứu của Tang và cộng sự (1992) Gebman (2001) thực hiện thí nghiệm trên 6 mẫu nút dầm-cột biên với tỉ lệ mô hình 1/2, trong đó, gồm 2 mẫu BTCT truyền thống và 4 mẫu BTCT sử dụng sợi thép với hàm lượng 2% (Hình 2-6). Khoảng cách cốt đai trong 2 mẫu BTCT truyền thống là 102 mm, trong 4 mẫu có sử dụng cốt sợi còn lại là 152 mm và 203 mm. Kết quả thí nghiệm cho thấy sợi thép cải thiện đáng kể khả năng chịu tải của nút và giảm bề rộng vết nứt. Khả năng tiêu tán năng lượng của nút có sợi thép tăng xấp xỉ 100% cho mẫu có khoảng cách thép đai là 203 mm và 300% cho mẫu có khoảng cách cốt đai là 152 mm so với nút BTCT truyền thống và những nút có sợi thép có nhiều vết nứt hơn.
Chi tiết mẫu thí nghiệm điển hình trong nghiên cứu của Gebman (2001) Gencoglu và Eren (2002) khảo sát thực nghiệm ảnh hưởng sợi thép trên 4 mẫu nút biên (Hình 2-7). Hai mẫu đầu tiên có sử dụng thép đai, hai mẫu còn lại sử dụng sợi thép và tăng khoảng cách cốt đai trong nút. Sợi thép có chiều dài 60 mm và đường kính 0.8 mm, giới hạn chảy là 1000 MPa. Hàm lượng thép sợi được sử dụng là 1%.
Kết quả cho thấy sử dụng sợi thép trong nút cho phép giảm hàm lượng thép đai. Sợi thép tăng tính dẻo, khả năng chịu cắt và cải thiện khả năng hấp thụ năng lượng. Tuy vậy, các tác giả kiến nghị nên sử dụng cả sợi thép và thép đai trong nút. Hình dạng và cấu tạo mẫu thí nghiệm trong nghiên cứu của Gencoglu và Eren (2002) Shannag và cộng sự (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của hình dạng và hàm lượng sợi thép đến ứng xử và khả năng kháng cắt của nút khung giữa chịu tác dụng của tải trọng ngang điều hòa.
Nghiên cứu được thực hiện trên 6 mẫu nút dầm-cột có kích thước hình học bằng 1/3 so với kích thước thật (Hình 2-8), trong đó, 1 mẫu không thiết kế cốt thép 8 kháng chấn, 1 mẫu được thiết kế cốt thép kháng chấn; 4 mẫu còn lại sử dụng sợi thép với hình dạng và hàm lượng khác nhau. Từ kết quả thực nghiệm, một số kết luận đã được rút ra như sau: (i) sử dụng sợi thép cải thiện đáng kể ứng xử của nút như khả năng kháng cắt tốt hơn, tính dẻo cao hơn, khả năng tiêu tán năng lượng tốt hơn và sự suy giảm độ cứng chậm hơn; (2i) những mẫu dùng sợi thép có móc, ứng xử tốt hơn so với mẫu có sợi thép thẳng do khả năng bám dính tốt hơn của những sợi thép có móc. Hình dạng và cấu tạo mẫu thí nghiệm trong nghiên cứu của Shannag và cộng sự (2005) 2.