chương 1. Đưa ra những nhận định đánh giá về chủ đề nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Chương 4. Kết luận và hàm ý chính sách.
Chương 4 sẽ tóm tắt những kết luận chính của bài nghiên cứu, đồng thời đưa ra những khuyến nghị chính sách để trả lời cho phần hai câu hỏi số ba trong mục đích nghiên cứu. Cuối cùng, nhóm tác giả đưa ra hạn chế của đề tài và những đề xuất về hướng nghiên cứu cho các bài nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm tính dễ tổn thương của nền kinh tế Thuật ngữ “tính dễ bị tổn thương” (vulnerability) xuất phát từ từ “vết thương” (wound, vulnus) trong tiếng Latin.
Để chỉ về tính chất hoặc tình trạng dễ bị tác động, bị hại, làm ảnh hưởng 4. Xuất phát từ ý nghĩa này, “Tính dễ bị tổn thương” của nền kinh tế được định nghĩa là “tính nhạy cảm của một nền kinh tế với các cú sốc ngoại sinh, phát sinh từ việc mở cửa kinh tế”. Trong phần định nghĩa của Briguglio (2004) còn nhấn mạnh, tính dễ bị tổn thương của nền kinh tế được cho là do “các đặc tính cố hữu” và thường trực của nền kinh tế. Không phụ thuộc vào các chính sách mà chỉ phụ thuộc vào các yếu tố không thể hoặc rất khó để thay đổi như quy mô của nền kinh tế, nguồn lực về tài nguyên và khả năng thay thế nhập khẩu,.
Khái niệm khả năng phục hồi nền kinh tế “Khả năng phục hồi” (Resilience) là thuật ngữ tuy xuất hiện từ khá sớm nhưng mới chỉ được dùng trong lĩnh vực kinh tế khoảng đầu thế kỷ 21 trở lại đây. Với ý nghĩa nguyên bản, “khả năng phục hồi” là khả năng bật trở lại, quay về lại trạng thái ban đầu trước những tác động (chủ yếu đề cập đến các tác động tiêu cực) 5. Khi gắn liền với ý nghĩa trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô, “khả năng phục hồi của nền kinh tế” theo định nghĩa của IMF (2012) là: “khả năng duy trì lâu hơn và mạnh hơn khoảng thời gian mở rộng; trải qua khoảng thời gian suy thoái ngắn hơn và nông hơn; để rồi phục hồi một cách nhanh chóng”. Trong một số nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề này, các tác giả cũng cho thấy một số góc nhìn khác về thuật ngữ này.
C ó thể điểm qua như sau: 4 Theo định nghĩa của từ điển Oxford 5 Theo định nghĩa của từ điển Oxford TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Trong nghiên cứu của Elbourne và cộng sự (2008) cho rằng “thuật ngữ khả năng phục hồi đề cập tới khả năng một nền kinh tế vẫn có thể phát triển thịnh vượng kể cả khi phải đối mặt với các cú sốc”. Còn theo Duval và cộng sự (2008), khả năng phục hồi của nền kinh tế có thể được định nghĩa như “khả năng duy trì sản lượng ở mức gần với sản lượng tiềm năng kể cả sau khi trải qua các cú sốc”. Trong nghiên cứu của Boorman và cộng sự (2013), khả năng phục hồi được định nghĩa là hàm của rất nhiều yếu tố: hiệu quả hoạt động của chính phủ và quản trị nói chung; sức mạnh của các tổ chức thể chế, đặc biệt trong hoạch địch chính sách kinh tế, tài chính; tính bền vững của hệ thống ngân hàng và tài chính; cấu trúc của nền kinh tế,… Và cuối cùng, theo một trong những tác giả nghiên cứu đầu tiên và có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu nhất về chủ đề này, Briguglio và cộng sự (2008) đã hoàn thiện khái niệm “khả năng phục hồi của nền kinh tế” rằng: khả năng phục hồi của nền kinh tế được hiểu là khả năng ứng phó, cho phép nền kinh tế chống chịu hoặc bật trở lại trước các cú sốc đến từ bên ngoài. Và ông cũng nhấn mạnh khả năng phục hồi ở đây không phải là một đặc tính tự nhiên, cố hữu của nền kinh tế mà có thể xây dựng được, phụ thuộc vào chính sách và quản lý Có nhiều cách định nghĩa về thuật ngữ này, nhưng nhìn chung, khi nghiên cứu về khả năng phục hồi, sẽ nghiên cứu 3 đặc trưng, đó là: khả năng phục hồi nhanh chóng từ cú sốc, khả năng chống chịu được ảnh hưởng của cú sốc và cuối cùng là khả năng tránh được cú sốc gần như hoàn toàn.
Cụ thể: Khả năng phục hồi nhanh chóng từ cú sốc: điều này liên quan đến khả năng linh hoạt của nền kinh tế, cho phép mau chóng phục hồi trở lại sau khi bị tác động bởi các cú sốc. Khả năng này sẽ bị hạn chế nghiêm trọng t rong một số trường hợp như thâm hụt ngân sách lớn, tỷ lệ thất nghiệp cao, .Mặc khác, khả năng nay sẽ được tăng cường khi nền kinh tế sở hữu các công cụ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 tài chính mạnh, có thể chống lại hiệu quả các tác động tiêu cực từ cú sốc. Ví dụ, với một vị thế tài chính mạnh, các nhà hoạch định chính sách có thể tùy ý chi tiêu hoặc cắt giảm thuế để đối phó với những tác động đang gặp phải. Đây là loại khả năng phục hồi liên quan với khái niệm “sốc kháng cự”.
Khả năng chống chịu được ảnh hưởng của cú sốc: đề cập đến khả năng các tác động từ cú sốc sẽ bị hấp thụ hoặc vô hiệu hóa, do đó kết quả cuối cùng là không tác động hoặc tác động không đáng kể. Đây là khả năng xảy ra khi nền kinh tế có cơ chế nội sinh phản ứng với những cú sốc tiêu cực để giảm hiệu ứng của chúng. Và khi đó, chúng được gọi là “sốc hấp thụ”. Ví dụ: Nền kinh tế sở hữu một lực lượng lao động linh hoạt, đa năng, khi bị một cú sốc tiêu cực làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của một khu vực vực cụ thể, có thể chuyển nguồn lực lao động từ khu vực bị ảnh hưởng sang khu vực mới có nhu cầu gia tăng.
Khả năng tránh được cú sốc gần như hoàn toàn: khả năng này được nhận định như một đặc tính cố hữu của nền kinh tế, và gần như tương ứng với khái niệm “tính dễ tổn thương” của nền kinh tế. Vậy nên, bài nghiên cứu với việc xem xét hai thuật ngữ, hai chỉ số như đã đề cập sẽ chỉ đề cập đến khả năng phục hồi nền kinh tế với hai đặc trưng đầu tiên. Do đó, khái niệm về “khả năng phục hồi của nền kinh tế” có thể được hiểu là khả năng chống chịu, thậm chí là hấp thụ và vượt qua các tác động từ cú sốc.2 Cách thức xây dựng chỉ số tổn thương vào chỉ số khả năng phục hồi của nền kinh tế Ý tưởng xây dựng các chỉ số dễ bị tổn thương nảy ra đầu tiên bởi Lino Briguglio khi ông tham gia trong một cuộc họp được tổ chức tại Malta năm 1985 về phát triển kinh tế của các nước nhỏ, có một số bất lợi đặt thù về tài nguyên ít, quy mô thị trường nhỏ, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế từ bên ngoài. Tuy nhiên, cũng tại hội nghị này, bước đầu cho thấy điều ngạc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 nhiên khi bất chấp các bất lợi, các nền kinh tế này lại có GDP đầu người tương đối cao.
Chỉ số tổn thương thực sự được phát triển và chú trọng khi diễn ra hội nghị toàn cầu Barbados về phát triển bền vững của quốc đảo nhỏ đang phát triển 6. Mãi đến năm 2003, khi nghiên cứu đầu tiên của Briguglio và cộng sự với đề tài “Economic Vulnerability and Resilience: Concepts and Measurements” được công bố, với sự kết hợp giải thích của chỉ số tổn thương và chỉ số khả năng phục hồi của nền kinh tế, thì tình huống ở các quốc đảo nhỏ mới thực sự được giải thích trọn vẹn. Và đây thực sự trở thành hai công cụ gây sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Để xây dựng hai chỉ số này, cần căn cứ vào đặc trưng của từng chỉ số đã được đề cập đến ở phần khái niệm.
Tiếp đến, khai thác những góc độ kinh tế vĩ mô, thể hiện những đặc trưng này. Và những góc độ (lĩnh vực) này sẽ là những chỉ số phụ tạo nên chỉ số chính đang muốn xây dựng. Để tạo nên những chỉ số phụ chúng ta lại đi từ các biến số kinh tế vĩ mô chi tiết hơn. Phần tiếp theo sẽ đi chi tiết các chỉ số phụ cũng là các nhân tố được thừa nhận có liên quan mật thiết đến chỉ số tổn thương và chỉ số khả năng phục hồi của nền kinh tế.
Các chỉ số phụ dùng để xây dựng chỉ số dễ tổn thương Với đặc trưng là hướng biểu hiện của một quốc gia với các cú sốc ng oại sinh bắt nguồn từ một số đặc điểm kinh tế vốn có, khó thay đổi, các nghiên cứu thực nghiệm về việc xây dựng một chỉ số dễ bị tổn thương kinh tế như của Briguglio (1995); Briguglio và cộng sự (2003); Farrugia (2004) đã đưa ra ba chỉ tiêu thể hiện tính dễ tổn thương của nền kinh tế đó là: mức độ mở cửa kinh tế cao, tập trung xuất khẩu và phụ thuộc vào chiến lược nhập khẩu. Mở cửa kinh tế: 6 Theo Lino Briguglio và cộng sự (2003). “Updating and augmenting the economic vulnerability index” Version 4, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Mở cửa kinh tế có thể được đo lường bằng tỷ lệ thương mại quốc tế so với GDP. Một mức độ cao của sự cởi mở kinh tế làm cho một quốc gia dễ bị tác động bởi các điều kiện kinh tế bên ngoài mà nó không kiểm soát trực tiếp.
Mở cửa kinh tế là nhằm mở rộng đáng kể các thuộc tính của một nền kinh tế, được xem xét chủ yếu bởi (i) ảnh hưởng quy mô của thị trường nội địa của quốc gia đến tỷ lệ xuất khẩu so với GDP, và (ii) bằng các nguồn lực sẳn có của đất nước về tài nguyên và hiệu quả sản xuất một loạt các hàng hóa và dịch vụ cần thiết để đáp ứng nhu cầu tổng hợp của nó, ảnh hưởng đến tỷ lệ nhập khẩu so với GDP. Có thể lập luận rằng sự cởi mở đối với thương mại quốc tế có thể bị ảnh hưởng bởi chính sách và do đó là kết quả của việc nuôi dưỡng khả năng phục hồi. Tuy nhiên kinh nghiệm thực tế cho thấy chính sách thương mại có xu hướng ảnh hưởng đến nhiều dòng ngoại thương của một quốc gia hơn chứ không phải là mức độ cởi mở kinh tế.