mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chuyển tải thành 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phân tích hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM. Phân tích tình hình huy động tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng TMCP Công Thƣơng – chi nhánh Quảng Nam năm 2012 - 2014. Giải pháp hoàn thiện hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng TMCP Công Thƣơng – chi nhánh Quảng Nam thời gian tới.
Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tiến hành thu thập thông tin, tìm hiểu các luận văn thạc sĩ có nội dung tƣơng tự đã đƣợc công nhận để tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn. Cụ thể nhƣ sau: - Đề tài thứ nhất “Huy động tiền gửi tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Đà Nẵng” năm 2014, của tác giả Lê Thị Diễm Thúy, đại học Đà Nẵng. Đề tài đã góp phần hệ thống hóa lý luận cơ bản huy động tiền gửi của NHTM, phân tích thực trạng huy động tiền gửi tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Đà Nẵng, từ đó đề xuất giải pháp tăng cƣờng huy động tiền gửi tại chi nhánh. Đề tài phân tích thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại chi nhánh.
Có rất nhiều hình thức huy động tiền gửi, nhƣ tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi…. Do vậy, đề tài chƣa chi tiết vào thực trạng huy động TGTK. Vì vậy đề tài không áp dụng vào phân tích hoạt động huy động TGTK tại Vietinbank chi nhánh Quảng Nam. 4 - Đề tài thứ hai “Huy động tiền gửi tại ngân hàng TMCP An Bình – chi nhánh Đà Nẵng” năm 2014, của tác giả Trần Võ Phi Yến, đại học Đà Nẵng.
Đề tài đã giải quyết đƣợc các câu hỏi nghiên cứu nhƣ: Huy động tiền gửi của ngân hàng thƣơng mại có những nội dung nào? Để đánh giá sự phát triển của huy động tiền gửi có những tiêu chí nào? Hoạt động huy động tiền gửi tại NHTMCP An Bình – chi nhánh Đà Nẵng trong thời gần đây có những thành công và hạn chế nào? Nguyên nhân của thành công và hạn chế đó? Để phát triển huy động tiền gửi tại NHTMCP An Bình – chi nhánh Đà Nẵng cần sử dụng những giải pháp nào? Đề tài chƣa chi tiết vào phân tích thực trạng huy động TGTK – một bộ phận của huy động tiền gửi. Vì vậy đề tài không áp dụng vào phân tích hoạt động huy động TGTK tại Vietinbank chi nhánh Quảng Nam. - Đề tài thứ ba “Hoàn thiện hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh Đà Nẵng” năm 2014, của tác giả Nguyễn Bạch Hồng, đại học Đà Nẵng. Đề tài đã giải quyết đƣợc các nội dung sau: Hệ thống hóa, tổng hợp những vấn đề lý luận về huy động vốn, huy động TGTK của NHTM, phân tích thực trạng huy động TGTK tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam - chi nhánh Đà Nẵng, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động huy động TGTK tại chi nhánh trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, đề tài có những tồn tại: Đề tài nghiên cứu tại BIDV Đà Nẵng, khác địa bàn hoạt động kinh doanh nên không áp dụng trực tiếp vào thực trạng hoạt động và những tồn tại ở Vietinbank chi nhánh Quảng Nam. - Đề tài thứ tƣ “Giải pháp đẩy mạnh huy động tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - chi nhánh Đà Nẵng” năm 2013, của tác giả Nguyễn Thị Thu Thanh, đại học Đà Nẵng. 5 Đề tài đã giải quyết đƣợc các nội dung sau: Hệ thống hóa, tổng hợp những vấn đề lý luận về huy động vốn, huy động TGTK của NHTM, phân tích thực trạng huy động TGTK tại Vietcombank Đà Nẵng. Trên cơ sở đánh giá sự tăng trƣởng huy động TGTK của ngân hàng trong mối quan hệ với sử dụng vốn có hiệu quả và kết quả khảo sát tham dò ý kiến của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ tiền gửi và sản phẩm tiết kiệm.
Từ đó đề xuất các giải pháp đẩy mạnh huy động TGTK để đáp ứng các mục tiêu kinh doanh và phát triển hoạt động bán lẻ trên địa bàn Vietcombank Đà Nẵng. Bên cạnh những vấn đề đã đƣợc giải quyết, đề tài vẫn còn những tồn tại: Do đề tài nghiên cứu từ 2011 trở về trƣớc nên không còn phù hợp với tình hình kinh doanh hiện nay của ngân hàng. Đề tài nghiên cứu tại địa bàn khác nên không phù hợp với thực trạng và tồn tại của Vietinbank Quảng Nam. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NHTM 1.
HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Khái niệm huy động vốn Huy động vốn là việc các ngân hàng thƣơng mại sử dụng các phƣơng thức khác nhau nhằm thu hút các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình. Nhìn vào bảng cân đối tài sản của NHTM, chúng ta thấy rằng nghiệp vụ huy động vốn đƣợc phản ánh bên phần tài sản nợ. Do vậy, huy động vốn còn đƣợc gọi là nghiệp vụ tài sản Nợ. Các hình thức huy động vốn của NHTM Theo Luật tổ chức tín dụng năm 2010, NHTM đƣợc huy động vốn dƣới các hình thức sau đây: a.
Nhận tiền gửi Đây là hình thức huy động vốn thƣờng xuyên, đƣợc thực hiện qua các chủ thể: tổ chức kinh tế, dân cƣ, kho bạc nhà nƣớc, các tổ chức tín dụng… - Nhận tiền gửi từ các tổ chức kinh tế + Tiền gửi thanh toán: Là hình thức ngân hàng nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế để thực hiện việc thanh toán hộ cho họ thông qua các lệnh chuyển tiền hay ủy nhiệm chi, séc… Vì đây là nguồn tiền gửi phục vụ cho mục đích thanh toán (giao dịch) an toàn nên mamg tính chất không kỳ hạn, không ổn định. Chi phí phải trả cho nguồn vốn này rất thấp. + Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là dạng đầu tƣ tài chính của các tổ chức kinh tế cho ngân hàng vay nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình trong một khoảng thời gian xác định. Thông thƣờng ngân hàng sẽ định ra một số kỳ hạn 7 nhất định với nguyên tắc: kỳ hạn gửi càng dài, lãi suất càng cao.
Mục đích của khoản tiền này là an toàn và sinh lợi, có kỳ hạn nên tính ổn định cao, chi phí huy động cao. + Tiền gửi ký quỹ: Là những khoản tiền gửi vào ngân hàng với mục đích sử dụng xác định trƣớc (tiền gửi ký quỹ mở L/C, bảo chi séc…). Với khoản tiền này, ngân hàng có thể sử dụng mà không phải trả chi phí, nhƣng tính ổn định của nó rất kém vì khách hàng có thể sử dụng nó bất kỳ lúc nào. - Nhận tiền gửi từ dân cư + Tiền gửi thanh toán: Ngân hàng thực hiện mở tài khoản cá nhân phục vụ cho nhu cầu nhận và chuyển tiền của chủ tài khoản.
Ngƣợc lại, ngân hàng cũng huy động đƣợc nguồn vốn dƣới dạng tiền gửi có tính chất không kỳ hạn và sử dụng nó vào các hoạt động khác của mình. Tính chất của nguồn vốn này là kém ổn định, là loại tiền gửi có số lƣợng lớn, quy mô tiền gửi nhỏ. + Tiền gửi tiết kiệm: Mục đích của nguồn tiền gửi này là an toàn và sinh lợi. Tiền gửi tiết kiệm của dân cƣ đƣợc thực hiện dƣới hình thức: tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Tính chất của nguồn vốn này là ổn định, là loại tiền gửi có quy mô lớn. Phát hành giấy tờ có giá Ngoài hình thức huy động vốn qua tiền gửi, các ngân hàng còn có thể huy động vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá. Đây là giấy chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả gốc và lãi cũng nhƣ các điều khoản cam kết khác của tổ chức tín dụng với ngƣời mua, thể hiện là các kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng… Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá là hình thức huy động không thƣờng xuyên. Nguồn vốn huy động gắn liền với mục đích nhất định của tổ chức huy động.
Các khoản vay phi tiền gửi Ngoài hình thức nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá, các NHTM còn có thể huy động vốn thông qua việc đi vay từ các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nƣớc hoặc vay ngân hàng nhà nƣớc dƣới hình thức tái chiết khấu các giấy tờ có giá. Đây là hình thức huy động không thƣờng xuyên và mang tính nhất thời. Vai trò của huy động vốn Huy động vốn không chỉ mang ý nghĩa là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM mà còn có ý nghĩa quan trọng không kém đối với bản thân khách hàng. - Đối với ngân hàng + Huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác.
Vốn không đơn thuần là phƣơng tiện kinh đoanh mà nó còn là đối tƣợng kinh doanh chính, trực tiếp quyết định tới quy mô hoạt động kinh doanh của NHTM. Những ngân hàng có vốn lớn sẽ có nhiều thế mạnh trong kinh doanh. Vốn huy động đƣợc giúp ngân hàng có đủ nguồn vốn kinh doanh, giữ thế chủ động trong kinh doanh, tăng lợi nhuận, đảm bảo khả năng thanh toán, đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng và ngƣợc lại ngân hàng có ít vốn cũng đồng nghĩa với việc gặp nhiều khó khăn khi tiến hành kinh doanh. Vì vậy, phải khẳng định rằng huy động vốn là một trong những hoạt động không thể thiếu và quan trọng nhất của NHTM.
+ Đánh giá đƣợc uy tín, độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế. Khả năng thanh toán là một chỉ số quyết định sự tồn tại của ngân hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì uy tín của ngân hàng càng lớn.
Vốn càng tạo niềm tin cho công chúng và là sự bảo đảm đối với các chủ 9 nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng. Ngân hàng cần phải có lƣợng vốn đủ mạnh để có thể đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng.