CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NHTM 1. Khái quát về cho vay tiêu dùng Hoạt động CVTD đã có một lịch sử phát triển lâu dài, nó xuất hiện từ thời phong kiến, tại nhiều quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, nó chỉ thực sự có những bước tiến đáng kể và mạnh mẽ trong khoảng thời gian gần đây.
Vào những năm 80 của thế kỷ 20, hệ thống NHTM của Mỹ phải tiến hành cải cách trước sự cạnh tranh gay gắt ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghiệp vụ của các NHTM. Trong thực tế, sự cạnh tranh mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi to lớn trong lĩnh vực công nghệ, luật pháp., và chính sự thay đổi đó đã tạo ra sự thay đổi về các dịch vụ mà NH cung ứng, đồng thời vai trò của NHTM trong hệ thống tài chính cũng không còn duy trì được như trước, từ đó đã dẫn đến sự thay đổi cơ cấu trong các NHTM. Môi trường cạnh tranh thay đổi một cách nhanh chóng và mạnh mẽ khiến các NHTM nếu không tiến hành đổi mới thì không thể tham gia cạnh tranh trong hệ thống tài chính được. Các NHTM không chỉ phải cạnh tranh với chính các NH trong cùng hệ thống, mà bên cạnh đó nó còn phải đối đầu với các tổ chức tài chính như: Công ty tài chính, Công ty bảo hiểm, Công ty thuê mua v.
đã ra đời và đang cùng tham gia chia sẻ thị phần thị trường với nó. Cuộc cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính càng diễn ra mạnh mẽ khi vào những năm 1970, các nhà môi giới đã tạo lập lên “thị trường tiền tệ bán lẻ”. Do đó, đến đầu những năm 1980, trước đòi hỏi của các NH về một “lĩnh vực tham gia ở mức độ cao hơn”, Quốc hội Mỹ đã cho phép các NH cung ứng “tài khoản thị trường tiền tệ” và dịch vụ môi giới [5, tr. 8 Một yếu tố khách quan thúc đẩy hoạt động tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh đó là xuất phát từ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng.
Thông qua mối quan hệ này, NH thấy được nhu cầu tín dụng theo hình thức này từ cả phía người sản xuất lẫn người tiêu dùng. Các nhà sản xuất cần có sự hỗ trợ để gia tăng tiêu thụ hàng hoá, còn người tiêu dùng cần tìm nguồn tài trợ cho các nhu cầu mà hiện tại sự tích luỹ của họ chưa đáp ứng được. Tại Việt Nam, trong các nghiệp vụ của NHTM, có thể nói rằng loại hình cho vay đối với người tiêu dùng được xem là một trong những hình thức tài trợ chính cho sự tiêu dùng của KH cá nhân, và được đánh giá là một trong những xu hướng đang tăng lên trong gần hơn hai thập kỷ qua. Chính vì vậy, CVTD không chỉ là một phương thức giải quyết các nhu cầu cấp bách, mà còn là phương tiện nhằm cải thiện mức sống của KH, khi cá nhân họ chưa có đủ khả năng chi trả cho các nhu cầu tiêu dùng phát sinh như mua nhà, mua xe ô tô hoặc sửa chữa nhà, cải tạo nhà ở, hay du học … Vậy, thế nào là cho vay tiêu dùng ? Hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa chính thống nào về hình thức CVTD, tuy nhiên lại có khá nhiều khái niệm đề cập đến CVTD và cơ bản giữa các khái niệm này đều có một sự thống nhất.
Như các NHTM đều hiểu rằng “CVTD là một hình thức qua đó NH chuyển cho KH (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền hay hiện vật) với những điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận nhằm giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có khả năng trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một mức sống cao hơn” [3, tr. Tóm lại, CVTD được xem là khoản tiền vay cấp cho các cá nhân, hộ gia đình để chi dùng cho các mục đích không kinh doanh nên có thể kết luận như sau: CVTD được hiểu là việc NH chuyển giao cho KH một lượng giá trị bằng tiền trên nguyên tắc KH sẽ hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian 9 xác định đã thỏa thuận để sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống. Định nghĩa về CVTD có thể là khác nhau nhưng nội dung là giống nhau, cùng là đề cập đến mục đích của loại cho vay này. Trong những năm gần đây, CVTD tăng lên do mang nhiều lợi nhuận đến cho NH.
Tuy nhiên, không phải NH nào cũng tích cực mở rộng hình thức cho vay này, điều này được lý giải thông qua các đặc điểm của CVTD 1. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng Ngày nay cùng với sự phát triển của hệ thống NH, hoạt động NH ngày càng tiến gần đến với đời sống của từng hộ gia đình. Vì lẽ đó sản phẩm CVTD cũng được các NH cung cấp ngày càng đa dạng và phong phú nhằm đáp ứng tốt các nhu cầu về tiêu dùng của KH cá nhân, giúp KH thỏa mãn được kỳ vọng của mình. CVTD là một sản phẩm thuộc danh mục các sản phẩm cho vay của NH, chính vì vậy bản thân sản phẩm này đã mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động cho vay.
Bên cạnh những đặc điểm chung này thì CVTD còn có những đặc điểm mang đậm nét riêng sau: ü KH vay là cá nhân hoặc các hộ gia đình. ü KH vay với mục đích phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của bản thân. Sống trong một xã hội tiến bộ và nền khoa học công nghệ - kĩ thuật tiên tiến như hiện nay cùng với sự ra đời và phát triển của nhiều sản phẩm mẫu mã đẹp và chất lượng cao, tự khắc nhu cầu của con người sẽ càng gia tăng hơn. Tất yếu quá trình trao đổi mua bán đòi hỏi diễn ra càng mạnh mẽ.
Song, để tham gia được vào quá trình mua bán hàng hóa thì cần phải có một lượng giá trị (tiền tệ) đủ lớn và đúng thời điểm. Chính vì tương quan đối ứng dùng tiền để mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ đã gây trở ngại cho những đối tượng KH có nhu cầu tiêu dùng nhưng lượng tài chính của họ không tương xứng. Do đó, CVTD đã giúp đối tượng KH này có thể thỏa mãn được mục đích tiêu 10 dùng cá nhân của bản thân. ü Quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay rất lớn.
Do mục đích vay tiêu dùng nên quy mô các khoản vay không lớn. Vì nhu cầu của dân cư với các loại hàng hoá xa xỉ là không cao hoặc đã có tích luỹ trước đối với các loại tài sản có giá trị lớn. Song, nhu cầu vay tiêu dùng là khá phổ biến do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng. ü Nguồn trả nợ: Khách hàng trích nguồn thu nhập từ lương, thu nhập từ hoạt động kinh doanh của mình (không phải là từ kết quả sử dụng những khoản vay đó).
ü Mục đích vay: Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh. Nhu cầu đó có thể xuất phát từ việc: mua nhà, sửa chữa nhà, xây dựng, mua sắm phương tiện, đồ dùng, hay các nhu cầu du lịch, học hành hoặc giải trí. ü Về rủi ro: Các khoản CVTD có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nó còn phải chịu tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân KH. Trong cuộc sống, chúng ta không thể lường trước được hết hậu quả do những rủi ro khách quan như suy thoái kinh tế, mất mùa, thiên tai… Đặc biệt, hoạt động CVTD phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, nhất là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái.
Khi đó, người tiêu dùng sẽ không thấy tin tưởng vào tương lai và cùng với những lo lắng về nguy cơ thất nghiệp, họ sẽ hạn chế việc vay mượn từ NH. Ngoài ra, CVTD còn chịu một số rủi ro chủ quan như tình trạng sức 11 khoẻ, khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình… Điều đó tạo nên rủi ro lớn cho NH, hơn nữa thông tin tài chính của đối tượng này rất khó đầy đủ và chính xác hoàn toàn. Mặt khác yếu tố đạo đức của cá nhân người tiêu dùng cũng là nhân tố tác động trực tiếp vào việc trả nợ cho NH, hay số lượng các khoản vay tiêu dùng là rất lớn trong khi đó số lượng CBTD ngân hàng lại có hạn cũng sẽ tạo nên rủi ro cho NH. ü Chi phí mỗi khoản cho vay tiêu dùng là khá lớn.
Do thông tin về nhân thân, lai lịch và tình hình tài chính của khách hàng thường không đầy đủ và khó thu thập, NH phải bỏ nhiều chi phí cho công tác thẩm định và xét duyệt cho vay. Hơn nữa phần lớn các khoản vay với số lượng lớn và giá trị nhỏ nên NH phải chịu một khoản chi phí đáng kể để quản lý hồ sơ khách hàng. Chính vì thế, CVTD trở thành khoản mục có chi phí lớn nhất trong các khoản mục tín dụng NH. ü Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng cao.
Do rủi ro cao và chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ của CVTD lớn nên NH thường đặt lãi suất rất cao đối với các khoản CVTD. Bên cạnh đó, số lượng các khoản CVTD là khá nhiều, khiến cho tổng quy mô CVTD là rất lớn, cùng với tiền lãi thu được từ mỗi khoản vay làm cho tổng lợi nhuận thu được từ hoạt động CVTD là đáng kể. Đối tượng và phân loại cho vay tiêu dùng của NHTM a. Đối tượng cho vay tiêu dùng Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, đối tượng tín dụng trước đây của các NH đa phần xoay quanh các KH doanh nghiệp lớn, các tổ chức kinh tế có những khoản vay lớn, để giúp các NH tìm kiếm nguồn lợi nhuận lớn.
Do đó, các NH ít quan tâm đến đối tượng KH cá nhân. Tuy nhiên thời gian gần đây, KH cá nhân đã trở thành đối tượng KH tiềm năng trong xu hướng phát triển NH hiện đại đồng thời với sự vỡ nợ hàng loạt của các tổng công ty nhà nước 12 đã gây ảnh hưởng không ít đến tâm lý thận trọng và giới hạn cho vay đối với các doanh nghiệp nên các NH đã có những điều chỉnh trong hoạt động cho vay của mình.