CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VAY HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1. HỘ SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ HỘ SẢN XUẤT ðỐI VớI NỀN KINH TẾ 1. Những khái niệm chung Hiện nay hộ sản xuất ñóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Hộ sản xuất ñã tồn tại qua nhiều phương thức kinh tế phát triển của xã hội và vẫn ñang tiếp tục phát triển, do ñó, có nhiều quan niệm về hộ sản xuất.
Có quan niệm cho rằng: Hộ sản xuất là một ñơn vị kinh tế mà các thành viên ñều dựa trên cơ sở kinh tế chung, các nguồn thu nhập do các thành viên cùng tạo ra và cùng sử dụng chung. Quá trình sản xuất của hộ ñược tiến hành một cách ñộc lập và ñiều quan trọng là các thành viên của hộ thường có cùng huyết thống, thường cùng chung sống chung một ngôi nhà, họ cũng là một ñơn vị ñể tổ chức lao ñộng. Hộ sản xuất là một chủ thể do một cá nhân hay hộ gia ñình làm chủ, hộ sản xuất ñược coi như là hộ gia ñình tiến hành một hoặc nhiều quá trình hoạt ñộng SXKD trong phạm vi một gia ñình Trong quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự: Những hộ gia ñình mà các thành viên có tài sản chung ñể hoạt ñộng kinh tế chung trong quan hệ sử dụng ñất, trong hoạt ñộng sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy ñịnh, là chủ thể trong các quan hệ dân sự ñó. Những hộ gia ñình mà ñất ở ñược giao cho hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan ñến ñất ở ñó.
ðặc ñiểm của hộ sản xuất Hộ sản xuất là bộ phận quan trọng hợp thành tổng thể nền kinh tế quốc dân, có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành kinh tế quốc dân khác và có những ñặc ñiểm riêng sau: - ðặc trưng cơ bản của hộ sản xuất là sự tự nguyện của từng thành viên trong hộ. Trong ñó mỗi thành viên vừa là chủ thể sản xuất, vừa là người lao ñộng trực tiếp, quá trình sản xuất dựa vào lao ñộng gia ñình. - Cùng với quá trình chuyển ñổi nền kinh tế quốc dân, các hộ sản xuất ở nông thôn nước ta ñang chuyển dần từ cơ chế khép kín, tự cung tự cấp sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Ngày nay các hộ nông dân không ñủ làm duy nhất một nghề nông mà ñã biết kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp kinh doanh ngành nghề phụ theo hướng ai có khả năng gì thì làm nghề ñó.
Sự chuyển ñổi nói trên ñã giúp cho các hộ sản xuất ở nông thôn bớt lệ thuộc vào yếu tố thời tiết, mùa vụ góp phần nâng cao thu nhập cho hộ, ñẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn. - ða dạng về ngành nghề sản xuất, kinh doanh - Quy mô sản xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật của các hộ sản xuất ở các vùng, các khu vực và các tỉnh thành khác nhau có sự chênh lệch ñáng kể. Thậm chí ñối với các hộ sản xuất trong cùng một vùng cũng có sự khác biệt về qui mô, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình ñộ lực lượng lao ñộng, khả năng vốn tự có, sở dĩ có sự khác biệt nói trên một phần là do mỗi vùng mỗi khu vực có những ñặc ñiểm riêng về ñiều kiện ñịa lý, khí hậu nhưng phần lớn là do sự khác biệt về tiềm năng kinh tế giữa các vùng. Bên cạnh ñó cũng có một yếu tố khác ảnh hưởng tới quy mô, cơ sở vật chất kỹ thuật của các hộ sản xuất ñó là khả năng của chính bản thân các hộ ñó.
Do có sự chênh lệch lớn về quy mô và cơ sở vật chất kỹ thuật giữa các hộ, cùng với sự tồn tại của một số lượng lớn các hộ sản xuất nhỏ lẻ, tất yếu sẽ dẫn ñến quá trình tích tụ và tập trung về 9 ruộng ñất, cơ sở vật chất kỹ thuật, quá trình tích tụ và tập trung này sẽ góp phần giảm bớt chất phân tán lạc hậu của nền kinh tế tiểu nông tạo ñiêù kiện thuận lợi ñể phát triển, mở rộng sản xuất kinh tế hộ - Cùng với sự chuyển hoá nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, kinh tế hộ sản xuất cũng sẽ suất hiện thêm nhiều hình thức tổ chức kinh tế hộ sản xuất khác nhau như hộ nhận khoán, hộ nhận thầu, hộ gia ñình là hộ thành viên của hợp tác xã, nông trường, tập ñoàn sản xuất, doanh nghiệp Nhà nước. Sự xuất hiện các hình thức tổ chức mới ñã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế hộ sản xuất, tăng thu nhập của hộ. Tuy nhiên các hình thức tổ chức như thế này cũng chịu mức ñộ rủi ro rất lớn vì vậy Nhà nước cần ban hành các chính sách hỗ trợ thích hợp ñể kinh tế hộ sản xuất củng cố và nâng cao vị trí của mình trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Hộ sản xuất thuộc nhiều ngành nghề khác nhau như dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, song phần lớn hiện nay trong tổng số lao ñộng nằm trong các ngành sản xuất vật chất thì riêng ngành nông nghiệp chiếm hơn 70%.
Hộ sản xuất vừa sản xuất vừa làm nghề phụ kinh doanh ñể tăng thu nhập cho gia ñình nâng cao ñời sống 1. Vai trò của hộ sản xuất ñối với nền kinh tế ñịa phương Hộ sản xuất là một lực lượng kinh tế quan trọng ñóng góp không nhỏ vào tỷ trọng GDP hàng năm ở nước ta, họ làm ra của cải vật chất phục vụ cho bản thân gia ñình và xã hội, họ có các vai trò to lớn ñối với nền kinh tế. Trước ñây kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển một cách ỳ ạch, hiệu quả thấp, vì vậy việc bố trí lao ñộng chưa hợp lý, cách tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm chưa khích lệ ñược người lao ñộng. Nhưng từ khi hộ sản xuất ra ñời, kinh tế hộ sản xuất phát triển rộng rãi thì việc tận dụng lao ñộng về mặt số lượng, cường ñộ ñã ñược sử dụng hợp lý.
Chính vì vậy, hộ sản xuất ñã tự chủ trong tất cả các khâu công việc: Từ việc mua sắm vật tư 10 thiết bị sản xuất ñến việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp với ñặc ñiểm của từng vùng ñất, từng ñịa phương, từng thời kỳ nhằm thu ñược hiệu quả cao và tăng cường ñược khối lượng hàng hoá cho xuất khẩu Việt Nam từ một nước nghèo, ñói ăn ñã trở thành nước thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo. ðó là do có sự ñóng góp to lớn của kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp nông thôn. Việc phát triển kinh tế hộ sản xuất không chỉ có hiệu quả ñối với sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn mà còn tác ñộng mạnh mẽ ñến toàn bộ ñời sống xã hội cũng như sự phát triển chung của ñất nước. Thực vậy, kể từ khi công cuộc ñổi mới ñược tiến hành một cách toàn diện vào năm 1988, ruộng ñất ñược giao cho các hộ nông dân canh tác, công việc sản xuất kinh doanh hoàn toàn do các hộ tự chịu trách nhiệm, kinh tế hộ ñã trở thành ñơn vị kinh tế ñộc lập và ngày càng ñạt hiệu quả, các hợp tác xã chỉ còn chức năng cung cấp các dịch vụ nông nghiệp.
ðiều ñó cho thấy kinh tế hộ sản xuất vừa tạo ra những biến ñổi to lớn tr ên bình diện sản xuất vừa ñạt hiệu quả cao trong thu nhập và quản lý kinh tế nông nghiệp nông thôn. Chính vì thế, trong ñiều kiện hiện nay cần phải tập trung phát triển kinh tế hộ là ñiều tất yếu. - Kinh tế hộ sản xuất nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng ñất ñai, tài nguyên, công cụ lao ñộng. Việc giao quyền sử dụng, quản lý lâu dài ñất ñai, tài nguyên cho hộ sản xuất ñã tạo ra ñộng lực mới thúc ñẩy các hộ chăm lo sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên của các hộ sản xuất ñược gắn liền với hiệu quả sử dụng tài nguyên nên các hộ ñã có những biện pháp thích hợp làm tăng ñộ màu mỡ của ñất, kết hợp việc khai thác với duy trì, bảo vệ tài nguyên.
Hộ sản xuất với tư cách là ñơn vị kinh tế tự chủ sẽ phải tự chịu trách nhiệm và ñã toàn quyền sử dụng ñối với các công cụ sản xuất của mình, do ñó họ sẽ tìm mọi 11 cách thức, biện pháp ñể sử dụng chúng có hiệu quả nhất, kết hợp với việc bảo quản tốt ñể có thể sử dụng lâu dài. - Khả năng thích ứng với cơ chế thị trường, thúc ñẩy sản xuất hàng hoá của nền kinh tế hộ Trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh, các ñơn vị kinh tế tự chủ nói chung, các hộ sản xuất nói riêng có quyền quyết ñịnh mục tiêu, quy trình công nghệ sản xuất kinh doanh, trực tiếp quan hệ với thị trường, tự hạch toán lỗ lãi ñể muốn tồn tại và phát triển ñược trong cơ chế thị trường thì các doanh nghiệp phải không ngừng mở rộng sản xuất. Thường xuyên nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với như cầu của thị trường, phải kết hợp với việc hạ giá thành sản phẩm, hạ giá bán ñể khích thích nhu cầu người tiêu dùng. Một trong những ưu ñiểm lớn nhất của kinh tế hộ sản xuất là có ñược bộ máy gọn nhẹ, năng ñộng do ñó sẽ dễ dàng nắm bắt ñược thay ñổi của thị trường ñể kịp thời nghiên cứu, ñiều chỉnh, triển khai phương thức sản xuất mới.
Bên cạnh ñó bộ máy tổ chức, quản lý gọn nhẹ còn góp phần làm giảm chi phí quản lý, từ ñó giá thành sản phẩm hạ làm tăng thêm khả năng cạnh trạnh của sản phẩm trên thị trường. Tóm lại hộ sản xuất là một hình thức tổ chức kinh tế năng ñộng, hiệu quả, có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường - Thúc ñẩy sự phân công lao ñộng dẫn tới chuyên môn hoá và do ñó tạo khả năng hợp tác lao ñộng trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi.