CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG 1. Hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại a. Doanh nghiệp và cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại - Doanh nghiệp Tại Khoản 7 Điều 4 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 quy định: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch đựơc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Theo đó, trước hết doanh nghiệp phải là chủ thể kinh tế độc lập, có hoặc không có tư cách pháp nhân, có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường và chịu trách nhiệm độc lập về mọi hoạt động kinh doanh của mình. Tuỳ theo đặc thù về lĩnh vực hoạt động, hình thức tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau, doanh nghiệp có thể được hiểu dưới các thuật ngữ khác nhau: nhà máy, xí nghiệp, công ty, cửa hàng. - Cho vay doanh nghiệp Tại Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng là cơ sở và quy phạm pháp luật chính cho hoạt động của các tổ chức tín dụng đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng. Theo khoản 16, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho 8 khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi.
Trong đó, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Như vậy, với cách tiếp cận trên, cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại được hiểu như sau: Cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp, theo đó ngân hàng giao cho doanh nghiệp một khoản bằng tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Nguyên tắc cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Cho vay có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Tiền cho vay thông thường là khoản mục có tỷ lệ sinh lời cao đồng thời có mức rủi ro cao nhất, do đó cần thiết phải có sự quản lý chặt chẽ.
Hoạt động cho vay nói chung cũng như cho vay doanh nghiệp nói riêng đều cần thiết phải đảm bảo ba nguyên tắc chung của tín dụng, đó là: - Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích Vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận giữa hai bên được thể hiện trong hợp đồng tín dụng. Việc đảm bảo sử dụng vốn vay đúng theo thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ sau này. Sử dụng vốn vay không đúng mục đích dễ dẫn đến thất thoát và lãng phí khiến vốn vay không tạo ra được dòng tiền để trả nợ cho ngân hàng. Vốn vay được sử dụng đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời giúp khách hàng đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cho ngân hàng, từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân 9 hàng và củng cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng.
- Nguyên tắc hoàn trả: vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền, do đó, sau khi cho vay trong một thời gian nhất định, khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gửi tiền. Bản chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả, cả gốc và lãi.
Lãi suất khách hàng phải trả chính là giá mua quyền sử dụng vốn. - Nguyên tắc bảo đảm tiền vay Vốn vay phải có bảo đảm tiền vay. Thực chất của nguyên tắc này là sự đảm bảo khả năng thu hồi nợ cho ngân hàng, giúp ngân hàng có thêm nguồn vốn khác để thu hồi nợ nếu mục đích cho vay bị phá sản. Nói cụ thể, bảo đảm ở đây vừa là nguồn thu nợ vừa tác động đến nghĩa vụ trả nợ, ngăn chặn tình trạng lạm dụng, sử dụng vốn thiếu tính toán của khách hàng; đồng thời có tác dụng phòng ngừa rủi ro trong cho vay, giảm nhẹ tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng không thanh toán được nợ.
Tùy theo mức độc tín nhiệm của khách hàng mà ngân hàng quyết định khách hàng thực hiện biện pháp bảo đảm tài sản hoặc không có tài sản hoặc kết hợp cả hai. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Cho vay doanh nghiệp là một hình thức cho vay, có các đặc điểm của hoạt động cho vay của NHTM nói chung và những đặc điểm riêng như sau: - Đối tượng khách hàng rất đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. 10 - Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp: nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, tài sản cố định; xây dựng nhà xưởng; đổi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh. - Các khoản vay thường có giá trị lớn và có thể rất lớn.
- Thủ tục và quy trình cho vay doanh nghiệp phức tạp hơn so với cho vay cá nhân bởi tính pháp lý của doanh nghiệp. - Nguồn trả nợ của người đi vay từ tiền bán hàng, lợi nhuận, khấu hao và các nguồn thu hợp pháp khác. - Khách hàng doanh nghiệp có hệ thống thông tin tài chính đầy đủ, chặt chẽ hơn so với khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh, nhờ vào hệ thống thông tin kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo thuế. Tuy nhiên, tùy thuộc vào báo cáo tài chính có được kiểm toán hay không, uy tín tổ chức kiểm toán mà chất lượng thông tin tài chính khách hàng cung cấp cao hay thấp.
- Rủi ro xảy ra từ cho vay doanh nghiệp thường gây ra tổn thất lớn cho phía ngân hàng. Do đó, hoạt động quản trị rủi ro đối với các khoản cho vay doanh nghiệp được các cấp lãnh đạo NHTM chú trọng quan tâm. Vai trò của cho vay doanh nghiệp Hoạt động cho vay doanh nghiệp là một trong những hoạt động chính của ngân hàng , có vai trò quan trọng đối với NHTM, doanh nghiệp cũng như đối với nền kinh tế. Cụ thể: - Đối với ngân hàng thương mại Cho vay doanh nghiệp là một trong những hoạt động chính tạo ra lợi nhuận cho các ngân hàng.
Tỷ trọng cho vay doanh nghiệp thường cao hơn rất nhiều so với cho vay cá nhân trong cơ cấu dư nợ, đồng thời ngoài thu nhập lãi từ hoạt động cho vay thì ngân hàng còn thu phí từ dịch vụ: các dịch vụ thanh 11 toán; ngân hàng điện tử; gửi tiền, chuyển tiền, bảo lãnh, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, … được doanh nghiệp sử dụng với mức độ thường xuyên. - Đối với doanh nghiệp Ngân hàng là kênh cung ứng vốn nhanh chóng, là công cụ hỗ trợ sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, góp phần tăng tiềm lực tài chính, tạo dựng được vị thế, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Thông qua hoạt động cho vay, vốn được cung cấp kịp thời đáp ứng sự thiết hụt nguồn vốn, tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông suốt, vòng quay vốn được luân chuyển thuận lợi, nhanh chóng. Thực tế cho thấy, vốn vay thường chiếm một vị trí đáng kể trong cơ cấu vốn của các doanh nghiệp.
Vốn vay ngân hàng là một trong những ưu tiên lựa chọn huy động hàng đầu của doanh nghiệp để mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh. Việc sử dụng nợ vay và đòn bẩy tài chính phù hợp làm gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, cụ thể là tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu và thu nhập trên cổ phần, đồng thời cũng là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng vốn, khả năng quản trị tài chính, quản trị điều hành của doanh nghiệp, tăng hiệu quả kinh doanh. - Đối với nền kinh tế Góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội nhà nước: Cho vay thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó tạo việc làm cho nhiều lao động, tạo ra phần lớn của cải vật chất cho nền kinh tế và tái phân bổ nguồn lực xã hội hợp lý. Bên cạnh đó, thông qua việc ban hành các thông tư, quy định chỉ đạo hướng dẫn từ ngân hàng nhà nước đối với việc cho vay, bằng các chính sách, biện pháp khuyến khích hoặc hạn chế đối với các lĩnh vực khác nhau, nhà nước có thể thể điều tiết được dòng vốn tập trung vào các ngành nghề được khuyến khích phát triển, qua đó, cân đối cơ cấu ngành nghề trong nền kinh tế, điều hòa vốn hướng đến một nền kinh tế phát triển.
12 Góp phần ổn định tiền tệ, giá cả: Khi thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, hoạt động cho vay nói chung và cho vay doanh nghiệp nói riêng đã trực tiếp làm giảm khối lượng tiền tệ tồn đọng trong lưu thông, đồng thời, đã tạo điều kiện thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là một trong những nhân tố tích cực làm giảm việc sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế, góp phần làm giảm lạm phát, ổn định tiền tệ.