Đặt vấn đề Đầm Trà Ổ thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định thuộc một trong 12 đầm phá lớn của miền Trung và là một trong 3 đầm phá lớn nhất ở Bình Định. Đầm có diện tích mặt nước lên đến 2000 ha và thay đổi theo mùa, giáp với 4 xã (Mỹ Thắng, Mỹ Lợi, Mỹ Châu, Mỹ Đức). Hằng năm, đầm mang lại cho cộng đồng dân cư ở khu vực này một khối lượng lớn các sản phẩm thủy sản. Trong đó, nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, góp phần giải quyết nhu cầu đời sống của đại bộ phận dân cư ven đầm và đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội chung của địa phương và của tỉnh Bình Định.
Đầm Trà Ổ là một đầm nước ngọt tự nhiên, mang tính đặc trưng của hệ thống đầm phá ven biển miền Trung Việt Nam. Trong đầm, hệ động, thực vật phù du rất phong phú tạo nguồn thức ăn ban đầu cho các loài thủy sản. Nơi đây có nhiều giống loài thủy đặc sản rất có giá trị, như chình mun, chình bông, cá thát lát, rạm, tôm, cua,….Vì vậy, đây chính là nơi cung cấp các món đặc sản tươi sống cho thị trường trong và ngoài tỉnh. Cá Thát lát ở đầm là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế được người dân quan tâm.
Cá Thát lát có thịt ngon, đặc biệt thịt có độ dẻo nên thường dùng để chế biến món chả cá, là một món đặc sản rất được ưa chuộng ở huyện Phù Mỹ nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung. Vì thế, nhu cầu tiêu thụ cá Thát lát ở đầm Trà Ổ ngày càng gia tăng. Đây là một trong những nguyên nhân góp phần gia tăng sự khai thác quá mức, làm cho sản lượng loài cá này ngoài tự nhiên giảm nghiêm trọng, kích cỡ cá thương phẩm ngày càng nhỏ dần. Vì vậy, việc thực hiện các nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về đặc điểm sinh học của cá Thát lát, đặc biệt là sinh học dinh dưỡng và sinh sản là rất cần thiết để góp phần bảo tồn hiệu quả loài có giá trị kinh tế này.
Ngoài ra, việc nghiên cứu những đặc điểm sinh học cơ bản của cá Thát lát sẽ làm cơ sở 2 cho nuôi thuần dưỡng và tiến xa hơn là sản xuất giống đối tượng này tại địa phương, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trên thị trường và giảm áp lực lên khai thác đối với nguồn lợi cá tự nhiên, đồng thời đa dạng hóa đối tượng nuôi mới tại Bình Định. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu cụ thể nào về đặc điểm sinh học của loài cá này ở khu hệ đầm Trà Ổ được thực hiện. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá Thát lát (Notopterus notopterus) phân bố tại đầm Trà Ổ, tỉnh Bình Định”. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu thu thập số liệu về hình thái giải phẫu, đặc điểm dinh dưỡng, đặc điểm sinh trưởng và đặc điểm sinh sản của cá Thát lát phân bố ở đầm Trà Ổ, tỉnh Bình Định để làm cơ sở cho việc bảo vệ nguồn lợi cũng như nhân giống và nuôi thương phẩm loài cá này.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Đưa ra số liệu về một số đặc điểm sinh học của cá Thát lát làm cơ sở cho việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi của cá Thát lát ở đầm Trà Ổ. - Ý nghĩa thực tiễn: Các số liệu thu được là dẫn liệu bổ sung cho công tác giảng dạy trong các lĩnh vực có liên quan. Kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung những dẫn liệu khoa học quan trọng về đặc điểm sinh trưởng, đặc điểm dinh dưỡng và đặc điểm sinh sản của cá Thát lát ở đầm Trà Ổ làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo về sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm, nhằm giảm áp lực khai thác nguồn lợi loài cá này trong tương lai. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Điều kiện tự nhiên của đầm Trà Ổ 1. Vị trí địa lý Đầm Trà Ổ nằm ở phía Bắc huyện Phù Mỹ, là một trong ba đầm lớn của tỉnh Bình Định, có diện tích mặt nước giáp các xã: Mỹ Đức, Mỹ Châu, Mỹ Thắng, Mỹ Lợi thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Địa hình, khí hậu, thủy văn Đầm Trà Ổ có diện tích mặt nước lên đến 2000 ha và thay đổi theo mùa, độ sâu không đáng kể. Chỉ đôi chỗ theo dòng chảy chính có độ sâu trên 2 m.
Đầm được thông ra biển qua cửa Hà Ra. Trước khi đổ ra biển nước đầm phải di chuyển trên một kênh dẫn hẹp và uốn khúc gọi là sông Châu Trúc với chiều dài khoảng 5 km. Trắc diện đáy đầm có cấu tạo bất đối xứng và chia thành hai bậc địa hình: bậc độ sâu 0 – 1 m và bậc sâu trên 1 m [1]. Đầm Trà Ổ mang tính chất của nền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12.
Nhiệt độ trung bình hằng năm 25,70C. Độ ẩm tại vùng đầm chỉ đạt 79 – 81% ứng với mùa mưa. Độ ẩm cực đại khoảng 83 – 84% vào tháng 11, 5, 6. Độ ẩm cực tiểu là 71 – 81% vào tháng 7 và tháng 1.
Độ ẩm trung bình nhiều năm là 79% [1]. Tại khu vực đầm Trà Ổ lượng mưa bắt đầu vào tháng 8, kết thúc vào tháng 12 với khoảng 1650mm, chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm. Lượng mưa lớn nhất tập trung vào 3 tháng 9, 10, 11; lượng nước chiếm khoảng 83% (1320mm) tổng lượng nước mùa mưa và khoảng 67% lượng mưa cả năm. Các tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 2, 3 và 4, chiếm 2-5% lượng mưa cả năm.
Đầm Trà Ổ thông với biển qua một đoạn sông ngắn là sông Châu Trúc dài khoảng 5 km và thông ra biển qua cửa Hà Ra, cửa này chỉ mở tạm vào mùa lũ và bồi cạn trong mấy tháng mùa khô. Trên lưu vực có các sông suối 4 nhỏ bắt nguồn từ các dãy núi cao bao quanh đổ vào đầm, như suối Núi Miếu, suối Sổ, suối Đập Thầy, suối Cạn, suối Ông Diệu. Vào mùa mưa, nước lũ từ thượng nguồn đổ về mang theo một lượng phù sa lắng đọng lại trong đầm. Tùy thuộc vào lượng nước từ nguồn đến theo mùa, diện tích mặt nước đầm Trà Ổ lúc rộng nhất khoảng 2000 ha, trung bình 1000 – 1200 ha.
Vào mùa khô kiệt mặt nước có thể thu hẹp, còn lại khoảng 200 – 300 ha [1]. Thành phần các loài sinh vật trong đầm Trà Ổ Đầm Trà Ổ là một trong 3 đầm phá lớn nhất ở Bình Định, thể hiện những nét đặc trưng về một hệ sinh thái của vùng đất ngập nước ở khu vực miền Trung Việt Nam. Đầm Trà Ổ có chế độ môi trường nước và thủy văn thuận lợi đã tạo điều kiện cho nhiều loại ấu trùng, hải sản đến đây sinh sống và phát triển, là vườn ươm của các loài tôm, cua, cá và các loài nhuyễn thể. Thực vật trên cạn Thảm thực vật này là đồng ruộng, vườn cây trong các khu vực quần cư, cùng với những loài thực vật hoang dại trên các cồn các ven biển, chủ yếu là những loài sống trên đất cát nghèo như dứa (Pandanus tectorius), muống biển (Ipomoea pescaprae)… Nơi có độ ẩm cao hay chịu ảnh hưởng của dao động mực nước có mặt các loài cây dại thân thảo hay cây bụi tạo nên rào chắn cho các khu vực dân cư.
Dưới đập Hòa Tân nơi còn chịu ảnh hưởng của nước mặn, có thể gặp một số loài cây ngập mặn còn tồn tại ở nơi không có triều như mắm (Avicennia) và những loại cây đi theo như ô rô (Acanthus), cói (Cyperus), mái đầm (Cryptocoryne)…[1]. Thực vật lớn trong đầm Thực vật lớn trong đầm gồm tảo đa bào, các loài thuộc dương xỉ (chua me, bèo ong, bèo tấm…). Thực vật có hoa một lá mầm (nghể, súng…) và hai lá mầm (rong nhám, cỏ hẹ, lục bình, sậy, cói…). Những loài phát triển mạnh trong đầm là cỏ hẹ (cỏ tóc tiên), rong lá, rong chân chó, đuôi chồn, rong 5 nhám, tảo vàng, năng, lác ba cạnh.
Ưu thế nhất trong chúng là cỏ hẹ, rong lá, rong chân chó. Cỏ hẹ có ở khắp đầm, mật độ khá dày và tương đối thuần loại, tập trung 2/5 đầm về phía Châu Trúc hướng ra đập. Khoảng 3/5 đầm còn lại rong lá phát triển mạnh mẽ hơn cỏ hẹ. Kích thước của 2 loại này khá lớn, vươn cao trong tầng nước 60 – 80 cm.
Chúng mọc xen nhau, dày đặc cùng với rong chân chó, đuôi chồn… cản trở sự đi lại của thuyền trên đầm. Ở những nơi nước rút cạn, những loài rong này trải ra một lớp xốp dày 5 – 10 cm, thối nhũng [1]. Thực vật nổi Thực vật nổi là thức ăn cho các động vật nổi và cá nổi. Khi chết cùng với sản phẩm đang phân hủy của xác tạo nên nguồn thức ăn cặn vẩn cho các sinh vật ăn cặn vẩn (tôm, thân mềm, cá…).
Qua khảo sát vào năm 1996 tại đầm Trà Ổ phát hiện 73 loại tảo thuộc 4 ngành: Khuẩn Lam (Cyanobacteriophyta), tảo Mắt (Euglenophyta), tảo Lục (Chlorophyta) và tảo Silic (Bacillariophyta) (Bảng 1. Tảo Silic giàu nhất, chiếm đến 41% tổng số, sau là tảo Lục, khuẩn Lam và tảo Mắt. Trong số tảo Silic thì tảo Silic lông chim chiếm ưu thế, đặc trưng cho khu hệ tảo nước ngọt với nhiều đại diện thuộc các chi Achannanthes, Cocconeis, Navicula, Gyrosygma, Pleurosigma, Suirella, Synedra… Tảo Silic trung tâm (Centricea) ít loài hơn song cũng là những loài sống trong nước ngọt như: Actynocyclus ehrenbergi, Melosira granulate, Coscinodiscus rothii, Cyclotella kutzingiana.v… Ngành khuẩn Lam (Cyanobacteiophyta) và tảo Mắt (Euglenophyta) khá đa dạng loài, tập trung vào một số chi như Oscilatoria, Spirulina, Euglens… thường hay phát triển mạnh ở khu vực giàu chất hữu cơ, bắt đầu nhiễm bẩn. Trong thành phần tảo của đầm Trà Ổ còn có mặt một số loài ưa độ muối thấp thuộc vùng cửa sông và biển ven bờ, phân bố rộng từ cửa sông Hồng đến vùng ven biển Ninh Thuận – Minh Hải như: 6 Nitzschi longgissima, N.sigma, Surirella biserita, S.rubosa, Cymbella turgida, Cocconeis placentula [1].
Số lượng loài của các ngành tảo trong đầm Trà Ổ Tên Cyanobacteriophyta Euglenophyta Chlorophyta Bacillariophyta Tổng ngành (Khuẩn Lam) (Tảo Mắt) (Tảo Lục) (Tảo Silic) Số lượng 15 11 17 30 73 loài Tỷ lệ 20,5 15,1 23,3 41,1 100 ( %) (Nguồn: Nguyễn Cao Huần, Đặng Trung Thuận, 1998)[1] 1. Động vật nổi Theo nghiên cứu của Nguyễn Cao Huần và Đặng Trung Thuận (1998) [1], ghi nhận được 34 loài, 5 dạng ấu trùng của muỗi Anopheles và giáp xác thuộc các giai đoạn Nauplius, Zoea, Mysis, Copedodid (Bảng 1.