Chương 1: Giới thiệu tổng quan về bài nghiên cứu và các cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu “thâm hụt kép”. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu đã thực hiện trƣớc đây về “thâm hụt kép” của các tác giả ở các nƣớc trên thế giới. Chương 3: Thực trạng về thâm hụt ngân sách Nhà nƣớc và thâm hụt tài khoản vãng lai ở Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2013 ; các phƣơng pháp thực nghiệm, các biến và mô hình đƣợc dùng. Chương 4: Các nghiên cứu thực nghiệm và kết quả của chúng khi kiểm định mối TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 liên hệ giữa thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách.
Chương 5: Các kiến nghị về chính sách dựa trên kết quả nghiên cứu ở Chương 4 1. Cơ sở lý thuyết của “thâm hụt kép” 1. Thâm hụt ngân sách Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học vĩ mô là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nƣớc (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. Trƣờng hợp ngƣợc lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi đƣợc gọi là thặng dƣ ngân sách.
Thu của chính phủ không bao gồm khoản đi vay. Đi vay chính là một cách mà chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân và có sự ảnh hƣởng khác nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, phân loại theo yếu tố nội tại, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nƣớc gồm hai nguyên nhân chủ yếu sau: Thất thu thuế nhà nước: Thuế là nguồn thu quan trọng, chủ yếu và bền vững nhất cho ngân sách nhà nƣớc.
Tuy nhiên, ở một số quốc gia, với hệ thống pháp luật về thuế chƣa hoàn thiện, chứa đựng nhiều bất cập, tạo kẽ hở cho một số cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, tránh thuế, khiến nguồn thu này bị thất thoát. Bên cạnh đó, các chính sách miễn, giảm, ƣu đãi thuế đƣợc Chính phủ ban hành để hỗ trợ nền kinh tế cũng góp phần khiến nguồn thu thuế bị giảm sút. Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn: Chính phủ thƣờng xuyên phải thực hiện các khoản chi để thực thi vai trò quản lý, điều hành đất nƣớc, đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng quốc gia. Các chính phủ ở mỗi nƣớc thƣờng chi tiêu rất lớn, các khoản chi thƣờng xuyên và chi đầu tƣ chiếm tỷ lệ rất cao so với GDP.
Tăng chi tiêu của chính phủ, một mặt tạo động lực giúp nền kinh tế tăng trƣởng mạnh hơn, mặt khác nếu việc chi tiêu quá mức, nhất là các khoản chi đầu tƣ kém hiệu quả sẽ gây ra lạm phát cao, dẫn đến bất ổn cho nền kinh tế vĩ mô. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Xét về tính chất, có thể chia thâm hụt ngân sách thành hai loại cơ bản: Thâm hụt cơ cấu : Các khoản thâm hụt đƣợc quyết định bởi những chính sách tùy biến của Chính phủ nhƣ quy định về thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng… Thâm hụt cơ cấu mang tính chủ quan do Chính phủ thực hiện nhằm điều tiết kinh tế vĩ mô. Khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái, Chính phủ có thể áp dụng chính sách tài khóa mở rộng, bằng cách tăng chi tiêu công hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả hai. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dƣ ngân sách ít hơn nếu trƣớc đó có ngân sách cân bằng.
Thâm hụt chu kỳ : Các khoản thâm hụt xảy ra theo chu kỳ kinh tế, ví dụ nhƣ nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên. Khác với thâm hụt cơ cấu, thâm hụt ngân sách theo chu kỳ mang tính khách quan, nằm ngoài mục tiêu kiểm soát kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Nó phụ thuộc vào chu kỳ của nền kinh tế. Một vấn đề đặt ra là thâm hụt ngân sách có tác động tích cực hay tiêu cực đến nền kinh tế.
R ràng, chúng ta thông thƣờng ủng hộ quan điểm thâm hụt sẽ gây ra tác động tiêu cực. Nhƣng thực tế không hẳn nhƣ vậy, khi thâm hụt ngân sách là do chi đầu tƣ phát triển, Nhà nƣớc dựa vào nguồn vốn nƣớc ngoài nhƣ ODA, FDI để đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu thì trạng thái thâm hụt đó là tốt, vì đó là trạng thái chủ động của Chính phủ để phát triển kinh tế nƣớc nhà. Ngƣợc lại, nếu thâm hụt ngân sách do không đáp ứng nhu cầu chi thƣờng xuyên, hoặc chi đầu tƣ vào những dự án không hiệu quả gây lãng phí nguồn nhân lực quốc gia thì trạng thái này không tốt, kết quả là Chính phủ phải đi vay nợ nƣớc ngoài, từ đó làm gia tăng gánh nặng nợ nƣớc ngoài và không có nguồn thu trong tƣơng lai để trang trải cho khoản nợ này. Tài khoản vãng lai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) là một trong ba bộ phận cấu thành nên cán cân thanh toán của một quốc gia, cùng với tài khoản vốn và dự trữ ngoại hối.
Nó ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữa ngƣời cƣ trú trong nƣớc với ngƣời cƣ trú ngoài nƣớc. Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của ngƣời cƣ trú trong nƣớc cho ngƣời cƣ trú ngoài nƣớc đƣợc ghi vào bên “nợ”. Còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của ngƣời cƣ trú ngoài nƣớc cho ngƣời cƣ trú trong nƣớc đƣợc ghi vào bên “có”. Thặng dƣ tài khoản vãng lai xảy ra khi bên “có” lớn hơn bên “nợ”.
Tài khoản vãng lai đƣợc hợp thành bởi cán cân thƣơng mại hàng hóa, cán cân thƣơng mại phi hàng hóa và các chuyển khoản. Cán cân thƣơng mại hàng hóa ghi nhận kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia so với các quốc gia khác1. Cán cân thƣơng mại phi hàng hóa ghi nhận giao dịch với nƣớc ngoài ở khu vực dịch vụ ( vận tải và du lịch) và cán cân thu nhập (kiều hối và thu nhập từ đầu tƣ)2. Cán cân chuyển khoản: bao gồm những khoản viện trợ không hoàn lại, giá trị của những khoản quà tặng, và các chuyển giao khác bằng tiền và hiện vật cho mục đích tiêu dùng của ngƣời cƣ trú và không cƣ trú3.
Cán cân thƣơng mại hàng hóa thƣờng là bộ phận chiếm phần lớn trong tài khoản vãng lai (hơn 80% trong tài khoản vãng lai ở Việt Nam). Các số liệu thống kê ở chú thích 1, 2 và 3 lấy năm 2013 làm đại diện đã nói lên điều này khi giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa là rất lớn trong khi các thành phần khác là tƣơng đối nhỏ hoặc 1 Trong năm 2013, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu nƣớc ta đạt 132,2 tỷ USD (tăng 15,4% so với năm 2012) trong khi đó kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2013 đạt 131,3 tỷ USD ( tăng 15,4% so với năm 2012). 2 Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2013 ƣớc tính đạt 10,5 tỷ USD ( tăng 9,1% so với năm 2012), trong đó dịch vụ du lịch đạt 7,5 tỷ USD (tăng 9,9%); dịch vụ vận tải 2,2 tỷ USD (tăng 5,8%). Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2013 ƣớc tính đạt 13,2 tỷ USD (tăng 5,4% so với năm 2012), trong đó dịch vụ vận tải đạt 9,1 tỷ USD (tăng 4,6%); dịch vụ du lịch đạt 2 tỷ USD (tăng 10,5%).
Nhập siêu dịch vụ năm 2013 là 2,7 tỷ USD (giảm 12,9% so với năm 2012) và bằng 25,7% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2012. Trong khi đó tổng kiều hối của Việt Nam năm 2013 đạt 11 tỷ USD, thu nhập từ đầu tƣ nƣớc ngoài chƣa có số liệu thống kê chính thức nhƣng tƣơng đối nhỏ do kinh tế nƣớc ta còn yếu, sự mở rộng quy mô đầu tƣ ra nƣớc ngoài còn nhiều hạn chế. 3 Viện trợ không hoàn lại của Việt Nam năm 2013 đạt khoảng 500 triệu USD trong khi các khoản chuyển giao khác là rất nhỏ và chƣa có số liệu thống kê chính thức. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 không đáng kể.
Vì thế, ở đây, ta sử dụng cán cân thƣơng mại hàng hóa đại diện cho tài khoản vãng lai khi nghiên cứu mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách. Tài khoản vãng lai thặng dƣ khi quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, hay khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tƣ. Ngƣợc lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc gia nhập khẩu nhiều hơn hay đầu tƣ nhiều hơn. Vậy vấn đề thâm hụt tài khoản vãng lai là tốt hay xấu ? Câu trả lời là tùy thuộc vào nền kinh tế vĩ mô, cũng nhƣ phụ thuộc vào bản chất của thâm hụt trong từng hoàn cảnh kinh tế cụ thể của từng quốc gia.
Có một điểm cần nhấn mạnh là bản thân việc thâm hụt tài khoản vãng lai về nguyên tắc là không tốt và cũng không xấu. Để đƣa ra nhận xét về mức độ thâm hụt tài khoản vãng lai của một quốc gia, chúng ta cần phải xem xét từng trƣờng hợp cụ thể, không thể chỉ nhìn vào con số thâm hụt/thặng dƣ thƣơng mại (hay thâm hụt/thặng dƣ tài khoản vãng lai) để rồi cho rằng thâm hụt đó là xấu hay là tốt. Tuy nhiên, dƣờng nhƣ có một quan niệm phổ biến (không chỉ ở Việt Nam) là thâm hụt tài khoản vãng lai là không tốt và thể hiện một nền kinh tế yếu kém và ngƣợc lại thặng dƣ tài khoản vãng lai thể hiện một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh tốt. Mặc dù trong nhiều trƣờng hợp, quan niệm nhƣ trên không phải là không đúng, nhƣng theo lý thuyết kinh tế thì không hẳn nhƣ vậy.
Khi tìm hiểu sâu hơn chúng ta vẫn có thể thấy trƣờng hợp thâm hụt tài khoản vãng lai thể hiện một nền kinh tế đang tăng trƣởng tốt, có nhiều cơ hội đầu tƣ với lợi nhuận cao, và khi nhu cầu đầu tƣ cao hơn khả năng tiết kiệm trong nƣớc, điều này sẽ làm cho dòng vốn nƣớc ngoài chảy vào quốc gia đó để đáp ứng nhu cầu đầu tƣ, tức là một quốc gia có thể sử dụng nguồn lực của nƣớc khác để phát triển nền kinh tế trong nƣớc.