Chương I: Cơ sở lý thuyết về phân tích tài chính KHDN trong hoạt động tín dụng tại NHTM 1.1 Cơ sở lý thuyết về phân tích tài chính KHDN trong hoạt động tín dụng tại NHTM 1.1 Khái niệm và mục đích phân tích tài chính KHDN Theo nghiên cứu của TS. Lê Thị Xuân cùng các cộng sự: “Phân tích tài chính của DN là một quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu về tài chính hiện hành và trong quá khứ của doanh nghiệp nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, đánh giá các rủi ro về tiềm năng trong tương lai của một doanh nghiệp trên cơ sở giúp cho nhà phân tích ra quyết định tài chính có liên quan đến lợi ích của họ trong doanh nghiệp” Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với NHTM là một tập hợp các phương pháp và các công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp ngân hàng đưa ra các quyết định tài trợ cho doanh nghiệp hay không.2 Vai trò của công tác phân tích tài chính KHDN Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho NHTM, đặc biệt là hoạt động cho vay KHDN. Tuy nhiên, lợi nhuận cao luôn đi kèm với rủi ro không thu hồi được khoản nợ. Vì vậy, công tác PTTC của KHDN là khâu quan trọng trong quá trình thẩm định hồ sơ khách hàng trước, trong và sau cho vay.
Việc tiến hành công tác này của NHTM nhằm mục đích: Giúp NHTM đánh giá được thực trạng và tiềm lực tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của KHDN trong tương lai để ra quyết định đầu tư đúng đắn. Đảm bảo khả năng trả nợ của khách hàng, là cơ sở cho việc thu hồi gốc và lãi của khoản vay tại NHTM giảm thiểu rủi ro tín dụng gây thất thoát vốn của NH. Giúp NHTM có thể đưa ra các biện pháp trích lập, phòng ngừa rủi ro phù hợp cho từng trường hợp xảy ra. 5 Như vậy, việc hoàn thiện công tác PTTC của KHDN tại NHTM như là một trong những biện pháp giúp ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động cho vay.
Nó là một bước quan trọng, tất yếu trong quy trình tín dụng góp phần giúp NH có thể đạt được lợi nhuận tối đa mà rủi ro lại thấp nhất.2 Phương pháp phân tích tài chính KHDN Theo TS. Lê Thị Xuân và các cộng sự đã cho rằng: “Phương pháp phân tích tài chính là hệ thống bao gồm các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính về doanh nghiệp” Để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, nhà phân tích có thể sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp phân tích khác nhau tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu phân tích hoặc tùy thuộc vào nguồn số liệu thu thập được trong quá trình phân tích. Cac phương pháp chủ yếu thường được sử dụng trong phân tích tài chính là phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp Dupont, phương pháp loại trừ, phương pháp đồ thị, biểu đồ, toán học,. Một vài phương pháp thường xuyên được sử dụng trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp là: Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến và thường được thực hiện ở bước khởi đầu của việc phân tích.
Việc sử dụng phương pháp so sánh là nhằm các mục đích: Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch mà doanh nghiệp đã đặt ra bằng cách so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kỳ thực tế với trị số của chỉ tiêu kỳ kế hoạch. Đánh giá tốc độ xu hướng phát triển của hiện tượng và kết quả kinh tế thông qua việc so sánh giữa kết quả kỳ này với kết quả sỳ trước. Đánh giá mức độ tiến tiến hay lạc hậu của đơn bị bằng cách so sánh giữa kết quả của bộ phận hay đơn vị thành viên với kết quả trung bình của tổng thể hoặc so sánh giữa kết quả của đơn vị này với kết quả của đơn vị khác có cùng quy mô hoạt động, trong cùng một lĩnh vực hoạt động. 6 Tuy nhiên, vấn đề cần chú ý là khi thực hiện phép so sánh để đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn, hai số liệu đưa ra so sánh phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được.
Các điều kiện đó là: Cùng nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính, cùng một đơn vị đo lường và phải được thu thập trong cùng một độ dài thời gian. Ngoài ra các chỉ tiêu cần phải được quy hồi về cùng một quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau. Về kỹ thuật so sánh có thể so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối, so sánh bằng số bình quân. Phương pháp phân tổ: Một hiện tượng kinh tế do nhiều bộ phận cấu thành.
Nếu chỉ nghiên cứu hiện tượng kinh tế qua chỉ tiêu tổng hợp thì không thể hiểu sâu sắc hiện tượng kinh tế đó. Do vậy, cần có những chỉ tiêu chi tiết để nghiên cứu từng bộ phận, từng mặt cụ thể của hoạt động sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác, phải sử dụng phương pháp phân tổ. Phân tổ là phân chia sự kiện nghiên cứu, các kết quả kinh tế thành nhiều bộ phận nhiều tổ theo những tiêu thức nhất định. Thông thường trong phân tích, người ta có thể phân chia các kết quả kinh tế theo các tiêu thức sau: phân chia theo thời gian (tháng, quý, năm); theo địa điểm và phạm vi kinh doanh; theo các bộ phận cấu thành của chỉ tiêu phân tích.
Phương pháp phân tích tỷ lệ: Môn tỷ lệ toán học là sự biểu hiện một mối quan hệ giữa lượng này với một lượng khác. Tuy nhiên, trong phân tích tài chính, một tỷ lệ được sử dụng cần gắn với một ý nghĩa kinh tế cụ thể. Một tỷ lệ muốn có ý nghĩa kinh tế nào đó thì các yếu tố cấu thành nó phải thể hiện mối quan hệ có nghĩa, Khi dùng tỷ lệ trong phân tích tài chính doanh nghiệp, để thấy được xu hướng biến động của tỷ lệ thực sự phản ánh một kết quả tốt hơn hay kém hơn, các nhà phân tích cần phải hiểu biết các yếu tố tham gia cấu thành tỷ lệ và những giả định thay đổi của các yếu tố này đến số tỷ lệ. Vì một số tỷ lệ chỉ phản ánh mối quan hệ giữa 2 yếu tố mà không thấy được độ lớn của mỗi yếu tố.
Do vậy, có những biến đổi của một tỷ lệ có vẻ thể hiện xu hướng tốt nhưng thực tế hoàn toàn khác và ngược lại. Mặt khác, một tỷ lệ nói chung khi có thể đánh giá là tốt hay sấy, thuận lợi hay không thuận lợi, nhưng nếu so sánh với số tỷ lệ trước đây của cùng một doanh nghiệp, so sánh với một chuẩn mực đã định trước, so sánh với cùng một tỷ lệ của các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh 7 vực hoạt động, hoặc so sánh với tỷ lệ ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành đó có thể được những sự chỉ dẫn đáng chú ý hay môt kết luận quan trọng. Ngoài những vấn đề đã nêu trên, sử dụng số tỷ lệ trong phân tích tài chính, nhà phân tích cần thấy được những hạn chế sau đây: Các số tỷ lệ phản ánh các điều kiện, các hoạt động kinh doanh, các giao dịch, các sự kiện và hoàn cảnh trong quá khứ. Các tỷ lệ phản ánh các giá trị ghi sổ Việc tính số tỷ lệ chưa được tiêu chuẩn hóa hoàn toàn Sự vận dụng các nguyên tắc và lựa chọn các chính sách kế toán khác nhau giữa các công ty và những thay đổi giữa các kỳ trong một công ty, mức độ đa dạng hóa và đặc điểm rủi ro khác nhau giữa các công ty ngay trong cùng một ngành cũng tác động không nhỏ tới các số tỷ lệ.
Mặc dù có những hạn chế, nhưng phân tích số tỷ lệ vẫn là một kỹ thuật quan trọng của phân tích các báo cáo tài chính bởi vì nó có thể định rõ được nền tảng, những mối quan hệ kết cấu và các xu thế quan trọng. Trong phân tích số tỷ lệ cần làm rõ các độ lệch trong các số tỷ lệ đã tính toán và sau đó quan trọng hơn là tìm ra các nguyên nhân chênh lệch. Số tỷ lệ xét về bản thân nó không thể là cơ sở duy nhất cho việc ra quyết định. Chúng cần được xem như là chứng cứ bổ sung dẫn tới một quyết định hay một giải pháp.
Phương pháp Dupont: Bản chất của phương pháp này là tách một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp thành tích của chuỗi các tỷ số có mối liên hệ nhân quả với nhau. Điều này cho phép phân tích những ảnh hưởng của các tỷ số thành phần đối với tỷ số tổng hợp. Với phương pháp này, nhà phân tích có thể tìm được những nhân tố, những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tốt xấu trong mỗi hoạt động cụ thể của doanh nghiệp,từ đó thấy được mặt mạnh, điểm yếu trong các hoạt động của doanh nghiệp. Ví dụ, theo phương pháp Dupont, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có thể được viết như sau: ROA = = = ROS * AU Trong đó: ROA: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản 8 ROS: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu AU: hiệu suất sử dụng tổng tài sản Với cách tính này, có thể thấy được khả năng sinh lợi của đồng vốn doanh nghiệp bỏ ra chịu ảnh hưởng bởi khả năng sinh lợi từ hoạt động bán hàng và công tác quản lý tài sản của doanh nghiệp.
Ưu điểm: Phương pháp Dupont mang tính đơn giản, cung cấp cho nhà quản lý các kiến thức căn bản và giải pháp sử dụng vốn doanh nghiệp hiệu quả. Dễ dàng kết nối với các chính sách tài chính của doanh nghiệp. Có thể sử dụng khi muốn thuyết phục nhà quản lý, chủ đầu tư. Giúp họ thấy rõ hơn thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Từ đó đưa ra các phương án mở rộng đầu tư kinh doanh, thôn tính các công ty khác hoặc nâng cấp hệ thống quản lý, quy trình hoạt động của doanh nghiệp trong chiến lược sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nhược điểm: Phương pháp Dupont khá phụ thuộc vào mức độ tin cậy của số liệu đầu vào.