Lời mở đầu Phần II: Tổng quan nghiên cứu về HĐTD và phân tích tài chính KHDN. Phần III : Số liệu và phương pháp nghiên cứu Phần IV: Kết quả nghiên cứu về hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính KHDN trong HĐTD tại ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu – chi nhánh Hà Nội. Phần V: Kết luận SV: Nguyễn Thị Anh Đào 3 GVHD: TS. Trịnh Chi Mai Khóa luận tốt nghiệp HVNH PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu Có thể khẳng định, nhiệm vụ phân tích tình hình tài chính chiếm vị trí rất quan trọng trong quy trình đưa ra quyết định cấp tín dụng của ngân hàng. Bởi vậy, nhiệm vụ này luôn cần được chú trọng và hoàn thiện qua từng năm. Cho nên, trong quá khứ đã có rất nhiều luận văn, khóa luận, bài nghiên cứu tiêu biểu về hoạt động này. Có thể kể đến như: Luận văn thạc sỹ của tác giả Hà Thị Tuyết Nhung (2015) “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính KHDN trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh (HD Bank) - Chi nhánh Đà Nẵng”.
Luận văn đã khái quát kết quả phân tích tài chính tại HD Bank nói chung và chi nhánh Đà Nẵng nói riêng. Sau đó xây dựng các tiêu chí để đánh giá sơ bộ về phân tích BCTC tại HD Bank Đà Nẵng trong hoạt động tín dụng thông qua công ty cổ phần Phương Nam trong 3 năm 2012-1014. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mai Thanh Tùng (2019) “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Hà Tây” tổng hợp thực trạng hoạt động phân tích tài chính khách hàng vay vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tây giai đoạn 2016 -2018 và đưa ra quan điểm cá nhân về các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính khách hàng vay vốn tại Ngân hàng trong thời gian tới. Trong khóa luận tốt nghiệp “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính khách hàng trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội – Chi Nhánh Ba Đình” tác giả Bùi Thị Hiếu Trinh (2021) đã chỉ ra sự khác biệt trong quy trình phân loại và phân tích tài chính KH lớn (CIB) với KH nhỏ (SME) trong khi cho vay tại chi nhánh MB Ba Đình.
Cuối cùng đánh giá, nhận xét đưa ra các giải pháp hoàn thiện phân tích KHDN lớn nơi đây. Từng bài đã làm rõ trọng tâm vấn đề về phân tích tài chính và sau đó nêu quan điểm cá nhân, những nhận xét, kiến nghị đề xuất của bản thân tác giả để giải quyết những hạn chế còn lại. Đề tài phân tích tài KHDN là một đề tài phổ biến trong nghiên SV: Nguyễn Thị Anh Đào 4 GVHD: TS. Trịnh Chi Mai Khóa luận tốt nghiệp HVNH cứu khi làm Khóa luận của sinh viên.
Thế nhưng, phạm vi nghiên cứu, thời gian và nội dung khai thác, của mỗi bài là không giống nhau bởi quy trình phân tích tài chính của mỗi NHTM là khác nhau. Đến nay, có chưa có khóa luận, báo cáo nghiên cứu nào về việc nâng cao hoạt động phân tích tài chính KHDN phục vụ HĐTD ở Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Hà Nội giai đoạn ba năm 2019 – 2021. Vì vậy đề tài vẫn cần được tìm hiểu để giúp chi nhánh có thể cho vay hiệu quả, kiểm soát nợ xấu, giảm rủi ro nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động tín dụng trong tương lai. Cho nên, đề tài “Hoàn thiện phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp phục vụ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu – Chi nhánh Hà Nội” vẫn luôn được quan tâm lớn.
Cơ sở lý luận về phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 2. Khái quát về hoạt động tín dụng 2. Khái niệm hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại Lịch sử phát triển cho thấy, tín dụng là một phạm trù kinh cũng là một sản phẩm của nền sản xuất hàng hóa. Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh tế hàng hóa và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển lên những giai đoạn cao hơn.
Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được chỉ ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo định nghĩa sau: “ Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên còn lại sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận” Chính vì vậy, có thể hiểu tín dụng là thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một khoảng thời gian nhất định. Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc hàng hóa đã vay khi đến hạn trả nợ có thể kèm theo khoản lãi tương ứng.
SV: Nguyễn Thị Anh Đào 5 GVHD: TS. Trịnh Chi Mai Khóa luận tốt nghiệp HVNH Cấp tín dụng của Ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Hoạt động tín dụng của ngân hàng phong phú và đa dạng, trong đó hoạt động cho vay là một hình thức đặc trưng, quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất trong ngân hàng. Đặc điểm hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng có các đặc điểm chính sau: Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế.
Nguồn vốn của tín dụng ngân hàng là nguồn vốn huy động của xã hội với khối lượng và thời hạn khác nhau, do đó nó có thể thoả mãn các nhu cầu vốn đa dạng về thời hạn cũng như khối lượng và mục đích sử dụng. Huy động vốn và cho vay vốn đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ, rất phổ biến và linh hoạt. Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay. Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin đối với khả năng hoàn trả nợ đúng hạn.
Bản thân tín dụng xuất phát từ tiếng La-tinh “Creditum” có nghĩa là sự giao phó hay sự tín nhiệm. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam có nghĩa là sự vay mượn. Điều này dẫn đến đặc điểm tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả. Sự tin tưởng đóng một vai trò quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của quan hệ tín dụng ngân hàng.
Do vậy, ngân hàng đã đưa ra thứ tự xếp hạng các tiêu chí như sau: 1) Uy tín của Khách hàng; 2) Tính khả thi của phương án kinh doanh; 3) Bảo đảm tiền vay Thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của chủ thể. Cho nên, thời hạn cho vay linh hoạt, ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Ngân hàng có thể điều chỉnh nguồn vốn với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu về thời hạn cho khách hàng. Do việc đánh giá tính an toàn của hồ sơ luôn bị tác động do nhiều yếu tố nên tín dụng tiềm ẩn những rủi ro cao.
Vì vậy quá trình cho vay trên căn cứ pháp lý chặt chẽ và chủ thể bên cạnh việc hoàn trả giá trị gốc sẽ phải trả thêm khoản lãi khi đến hạn. SV: Nguyễn Thị Anh Đào 6 GVHD: TS. Trịnh Chi Mai Khóa luận tốt nghiệp HVNH Tín dụng là có tính hoàn trả. Đây là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng và là dấu ấn để phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác.
Sau khi kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng, hoàn thành một chu kỳ sản xuất trở về trạng thái tiền tệ, vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả cho người cho vay kèm một phần lãi như đã thỏa thuận. Khách hàng trong hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng phân chia thành tín dụng khách hàng cá nhân và tín dụng khách hàng doanh nghiệp. Trong đó, hoạt động tín dụng dành cho cá nhân sẽ tập trung chủ yếu vào những nhu cầu trong đời sống, phục vụ nhu cầu thiết yếu của cá nhân ví dụ như: vay xây nhà, vay mua xe, gửi tiết kiệm,.Các hoạt động cho vay này tương đối đơn giản vì chỉ đánh giá về khả năng tài chính của cá nhân (về sao kê lương, nguồn thu nhập, bất động sản. Đối với hoạt động cấp tín dụng cho doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ chia thành doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp lớn.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có doanh thu nhỏ hơn 100 tỷ và doanh nghiệp lớn có quy mô doanh thu 1000 tỷ trở lên. Về bản chất, việc phân tích tài chính khách hàng hai loại hình doanh nghiệp này không có sự khác biệt. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp vừa và nhó, khoản cấp tín dụng sẽ nhỏ hơn nhiều lần và không quá phức tạp như doanh nghiệp lớn. Nhìn chung, đối với doanh nghiệp, là khách hàng quan trọng trong hoạt động tín dụng, ngân hàng cần chú ý đến việc phân tích tài chính nhằm mục tiêu cấp tín dụng một cách bao quát, tỉ mỉ và chính xác để đưa ra quyết định hợp lý nhất.
Vai trò của hoạt động tín dụng trong Ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng mang tới nhiều lợi ích cho nền kinh tế, ngân hàng và khách hàng: Đối với nền kinh tế, tín dụng ngân hàng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế luân chuyển vốn hiệu quả giữa các chủ thể đồng thời phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính cho nền kinh tế. Tín dụng cũng góp phần hỗ trợ các ngành nghề bảo lãnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngân hàng là trung gian tài chính, huy động vốn từ các chủ thể có lượng vốn dư thừa tạm thời chưa sử dụng (cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, Chính phủ) đến những chủ thể đang có nhu cầu sử dụng vốn, bị thiếu hụt vốn. Ngoài ra, nó còn SV: Nguyễn Thị Anh Đào 7 GVHD: TS.
Trịnh Chi Mai Khóa luận tốt nghiệp HVNH là công cụ điều tiết nền kinh tế xã hội của nhà nước.