CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Chương này đề tài sẽ nêu ra cơ sở cho việc chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tóm lược lại phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và bố cục của đề tài. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM Chương này sẽ tập trung nêu lên cơ sở lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi thuần trong NHTM và các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của NHTM. Đồng thời trình bày các dẫn chứng là kết quả của các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần. 4 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 Chương này đề tài sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu, thiết lập các giả thuyết nghiên cứu và trình bày phương pháp thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu để kiểm định các giả thuyết.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chương này đề tài thực hiện thống kê mô tả, phân tích sự tương quan giữ các biến trong mô hình, thực hiện kiểm định nghiên cứu đồng thời thảo luận về kết quả nghiên cứu. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Chương này đề tài nêu tóm tắt vấn đề nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu chính của đề tài, những khuyến nghị cho các NHTM Việt Nam và gợi ý các chính sách liên quan đến việc cải thiện tỷ lệ thu nhập lãi thuần. Đồng thời trình bày các hạn chế mà đề tài chưa thực hiện được và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 6 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Chương 1 đã trình bày sơ lược về vấn đề nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng trong đề tài và cấu trúc thực hiện luận văn.
Nhằm xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2018, đề tài đã xác định mục tiêu nghiên cứu và hình thành 3 câu hỏi nghiên cứu: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2018; Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2018; Từ kết quả phân tích thực trạng có những đề xuất gì để các NHTM cải thiện tỷ lệ thu nhập lãi thuần? Để trả lời cho những câu hỏi trên, chương 2 tác giả sẽ đưa ra các cơ sở lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi thuần của NHTM, các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của NHTM và khảo lược các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây làm cơ sở để phát triển giả thuyết nghiên cứu ở chương 3. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, tác giả sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi thuần của NHTM, các yếu tố ảnh hưởng tỷ lệ thu nhập lãi thuần của NHTM. Đồng thời, chương này cũng khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước trước đây về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần NHTM.1 THU NHẬP LÃI THUẦN CỦA NHTM 2.1 Khái niệm về tỷ lệ thu nhập lãi thuần của NHTM John W. Goddard (1992) là tác giả của cuốn sách “Successful Bank Asset/Liability Management: A Guide to the Future Beyond Gap”.
Trong đó, các tác giả viết rằng: “Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Net interest margin – NIM) là thước đo chênh lệch giữa thu nhập lãi do ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính khác tạo ra và số tiền lãi phải trả cho khách hàng (ví dụ: tiền gửi, cho vay), so với tài sản có sinh lãi. Nó tương tự như tỷ suất lợi nhuận gộp của các công ty phi tài chính”. Tại Việt Nam, theo thông tư số 52/2018/TT-NHNN về quy định xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2018 định nghĩa rằng: “Thu nhập lãi thuần (NIM) là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Chỉ tiêu này phản ánh chênh lệch giữa lãi suất huy động bình quân và lãi suất cho vay bình quân của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.2 Cách đo lường thu nhập lãi thuần của NHTM Trên thế giới có nhiều các tính khác nhau, tuy nhiên hai cách tính thông dụng nhất được sử dụng cũng như đã thể hiện ở nhiều các công trình nghiên cứu trước đây: Công thức 1: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 − 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ã𝑖 𝑁𝐼𝑀 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 (Fungáčová & Poghosyan, 2011 ;Hamadi & Awdeh, 2012;.) 8 Công thức 2: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 − 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ã𝑖 𝑁𝐼𝑀 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝐶ó sinh 𝑙ã𝑖 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 9 (Bektas, E., 2014; Meshesha Demie Jima, 2017;…) Trong bài luận văn này tác giả sẽ sử dụng công thức 2 là chênh lệch giữa thu nhập từ lãi mà ngân hàng nhận được và chi phí lãi mà ngân hàng phải trả, chia cho tài sản Có sinh lãi bình quân của ngân hàng.
Trong đó: - Thu nhập lãi thuần (thu nhập lãi trừ chi phí lãi) là khoản mục Thu nhập lãi thuần phản ánh trên Báo cáo kết quả kinh doanh theo quy định của pháp luật về chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng. Thu nhập lãi là các khoản thu nhập từ lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi từ kinh doanh và đầu tư chứng khoán nợ, lãi từ nghiệp vụ bảo lãnh và các khoản thu khác từ hoạt động tín dụng. Chi phí lãi là các khoản chi phí mà ngân hàng phải trả từ hoạt động huy động tiền gửi, cho vay, phát hành giấy tờ có giá và từ hoạt động tín dụng khác. - Tài sản Có sinh lãi là tổng các khoản mục: Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước; Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác và cho vay các tổ chức tín dụng khác (không bao gồm dự phòng rủi ro); Cho vay khách hàng (không bao gồm dự phòng rủi ro); Chứng khoán đầu tư (không bao gồm dự phòng giảm giá); Khoản góp vốn, đầu tư dài hạn (không bao gồm dự phòng giảm giá); phản ánh trên Bảng cân đối kế toán theo quy định của pháp luật về chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng.3 Ý nghĩa của tỷ lệ thu nhập lãi thuần Xét về khía cạnh kinh tế, tỷ lệ thu nhập lãi thuần là thước đo khả năng sinh lời của các NHTM, giúp các nhà quản trị đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Tỷ lệ thu nhập lãi thuần góp phần quan trọng trong tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng, khi chỉ số NIM này càng cao phản ánh được ngân hàng đang hoạt động tốt trong việc quản trị tài sản có và tài sản nợ cũng như các khoản cho vay và các khoản tiền gửi. Ngược lại, chỉ số NIM càng thấp cho thấy lợi nhuận của ngân hàng đang có xu hướng giảm đi. Theo Standard & Poor's (S&P) là một công ty dịch vụ tài chính đánh giá tỷ lệ thu nhập lãi thuần thì chỉ số NIM lớn hơn 5% được xem là tương đối 10 cao và dưới 3% được xem là thấp. 11 Xét về khía cạnh lợi ích xã hội, tỷ lệ thu nhập lãi thuần tốt hay xấu chỉ là mang tính chất nhất thời.
Khi chỉ số NIM càng tăng làm cho lãi suất cho vay cao gây khó khăn lên cho các doanh nghiệp muốn vay vốn và lãi suất huy động thấp sẽ gây bất lợi cho việc huy động tiền gửi của dân cư. Khi chỉ số NIM thấp thì lại phản ánh sự hiệu quả trong hoạt động cạnh tranh của ngành ngân hàng. Các NHTM sẽ cạnh tranh nhau trong việc điều chỉnh mức lãi suất huy động, cho vay và chi ngoài lãi. Tuy nhiên, khi môi trường cạnh tranh yếu kém thì các ngân hàng được phép thực hiện cấp tín dụng với lãi suất thấp nhằm tăng thị phần, vì thế không thể chắc NIM thấp là tốt.
Tóm lại, tỷ lệ thu nhập lãi có tác động tích cực hay tiêu cực còn tùy thuộc vào các yếu tố và môi trường, nhưng tỷ lệ này cao luôn được coi là tốt hơn. Tỷ lệ thu nhập lãi thuần thấp phản ánh hoạt động ngân hàng không hiệu quả nhưng lại giúp các doanh nghiệp thiếu vốn tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Ngược lại, NIM cao là biểu hiện ngân hàng có lợi nhuận tốt nhưng lại là bất lợi cho lưu thông tín dụng và chủ thể đi vay.2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ LỆ THU NHẬP LÃI THUẦN 2.1 Các yếu tố vi mô 2.1 Mức ngại rủi ro (hay quy mô vốn chủ sở hữu) Mức ngại rủi ro là chỉ tiêu đo lường mức độ chấp nhận rủi ro của nhà quản trị ngân hàng. (1997), Ugur & Erkus (2010), Hamadi & Awdeh (2012) thì trong nghiên cứu của các tác giả đã đo lường biến này qua chỉ tiêu tỷ lệ 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng, cụ thể như sau: 𝑀ứ𝑐 𝑛𝑔ạ𝑖 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 (𝐸𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦 𝑐𝑎𝑝𝑖𝑡𝑎𝑙 − 𝐶𝐴𝑃) = × 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Vốn chủ sở hữu của ngân hàng được hình thành từ vốn góp của các cổ đông và vốn tích lũy từ lợi nhuận sau thuế của ngân hàng.
Các ngân hàng có đủ vốn chủ sở hữu theo pháp luật quy định để có thể có được giấy phép hoạt động. Vốn chủ sở hữu đóng vai trò là một tấm đệm chống lại rủi ro phá sản vì vốn giúp trang trải 12 những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ. Vì thế, CAP được xem như là một biến để đo lường sự an toàn và tính lành mạnh của ngân hàng. Nó cho thấy khả năng hấp thụ thiệt hại bất ngờ của một ngân hàng.
13 Tỷ số này càng cao thì mức ngại rủi ro càng cao. Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ sử dụng vốn tự có nhiều hơn thay vì sử dụng nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Từ đó giúp cho ngân hàng giảm bớt chi phí cho việc huy động vốn và giảm chi phí vốn, cho vay nhiều hơn, ảnh hưởng tích cực lên tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ngân hàng (Demirguc-kunt, A.2 Quy mô hoạt động cho vay Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại. Cụ thể, ngân hàng sẽ huy động các khoản tiền nhàn rỗi và sử dụng lượng tiền đó để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.