Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng ngân hàng Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2.1 Cơ sở lý thuyết về hoạt động tín dụng 2.1 Khái niệm về hoạt động tín dụng Nguyễn Minh Kiều (2006) cho rằng: Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”. Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng luôn đi đôi với hoạt động huy động vốn và cũng là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, là nguồn thu nhập chính của ngân hàng. Trong đó, hoạt động tín dụng bao gồm: - Cho vay, hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất, được thực hiện dưới hình thức cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn.
Trong đó, các tổ chức, cá nhân được Ngân hàng thương mại cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Để thực hiện các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh,… hoặc mở rộng quy mô sản xuất, nhà xưởng, mua sắm thiết bị… thì ngân hàng sẽ cung cấp các gói cho vay trung, dài hạn. - Bảo lãnh là một hình thức tín dụng mà ở đó ngân hàng dùng uy tín và khả năng tài chính của ngân hàng để bảo lãnh vay, thanh toán, thực hiện hợp đồng, đấu thầu hoặc vay tại ngân hàng khác cho người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một Ngân hàng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng.
- Chiết khấu, đối với hình thức tín dụng này Ngân hàng thương mại được quyền chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác cho cá nhân hoặc tổ chức kinh tế; được quyền tái chiết khấu cho các tổ chức tín dụng khác. - Cho thuê tài chính sẽ được Ngân hàng thương mại cung cấp cho cá nhân, tổ chức nếu Ngân hàng thương mại thành lập riêng công ty cho thuê tài chính.2 Các hình thức hoạt động tín dụng 2.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng Dựa vào thời hạn tín dụng ta có thể chia tín dụng thành 3 hình thức sau: - Tín dụng ngắn hạn, hay còn được biết là cho vay ngắn hạn, là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm. Loại hình này thường phục vụ cho việc bổ sung vốn lưu động, tài trợ tài sản ngắn hạn cho doanh nghiệp hoặc phục vụ nhu cầu bức thiết của khách hàng cá nhân. - Tín dụng trung hạn, có thời hạn vay từ 1 đến 5 năm.
Loại hình này thường đáp ứng nhu cầu mua sắm tài sản cố định, đầu tư mở rộng sản xuất với quy mô nhỏ, dễ thu hồi vốn. - Tín dụng dài hạn, thời hạn vay từ 5 năm trở lên. Loại tín dụng này được dùng để đầu tư các dự án phát triển hạ tầng cơ sở, nâng cao năng suất lao động và tạo vị thế cho các ngành công nghiệp then chốt, khả năng hợp tác chuyên ngành và đa ngành, đồng thời góp phần đổi mới cơ cấu của nền kinh tế quốc dân.2 Căn cứ vào đối tượng tín dụng Tín dụng được chia thành 2 loại: tín dụng vốn lưu động và tín dụng vốn cố định. Tín dụng vốn lưu động thường dùng để bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời, để dự trữ hàng hoá, để thanh toán chi phí phát sinh trong chu kỳ sản xuất kinh doanh, hoặc thanh toán các khoản nợ.
Bên cạnh đó, tín dụng vốn cố định được sử dụng để hình thành tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng công trình.3 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn Theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng có thể chia thành 2 loại chính. Đầu tiên là tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá, với loại tín dụng này vốn vay sẽ được sử dụng để phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc trong việc vận chuyển hàng hoá trong và ngoài nước. Tiếp theo, tín dụng tiêu dùng cá nhân, hình thức cấp phát 9 tín dụng cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ, và cả những nhu cầu hàng ngày. Tín dụng tiêu dùng có thể được cấp phát dưới hình thức bằng tiền hoặc dưới hình thức bán chịu hàng hoá.
Ngoài ra, còn một số loại tín dụng khác như: tín dụng bất động sản, tín dụng nông nghiệp, tín dụng kinh doanh xuất nhập khẩu.4 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng Có 2 loại tín dụng là tín dụng không có bảo đảm, và tín dụng có bảo đảm. Trong đó, tín dụng không có bảo đảm, còn được biết là tín dụng tín chấp, là loại không cần khách hàng phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh để được cấp tín dụng mà chỉ cần dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Ngược lại, tín dụng có bảo đảm yêu cầu khách hàng phải cung cấp tài sản dùng đảm bảo để thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba để được ngân hàng cấp tín dụng.3 Vai trò của hoạt động tín dụng Thứ nhất, hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được thực hiện liên tục, đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế.Việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục. Tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư.
Nó là động lực kích thích tiết kiệm và là phương tiện đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển. Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn vốn hình thành vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp, vì vậy tín dụng đã góp phần động viên vật tư hàng hoá đi vào sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội. Thứ hai, tín dụng còn thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hoạt động của ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, trên cơ sở đó cho các đơn vị kinh tế vay vốn giúp các doanh nghiệp tập trung vốn và tập trung sản xuất.
Mặt khác quá trình đầu tư tín dụng được thực hiện một cách tập trung, chủ yếu là cho 10 các xí nghiệp lớn, những xí nghiệp kinh doanh hiệu quả. Thứ ba, tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn. Trong thời gian tập trung phát triển nông nghiệp và ưu tiên cho xuất khẩu Nhà nước đã tập trung tín dụng để tài trợ phát triển các ngành đó, từ đó tạo điều kiện phát triển các ngành khác. Thứ tư, hoạt động tín dụng góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp.
Đặc trưng cơ bản của vốn tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức, nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sử dụng vốn có hiệu quả. Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn tín dụng phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp. Cuối cùng, tín dụng đã tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài. Trong điều kiện kinh tế mở, tín dụng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền các nền kinh tế các nước với nhau.4 Chức năng của hoạt động tín dụng Trong nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, tín dụng có ba chức năng cơ bản sau đây: chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả, chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông, chức năng kiểm soát các hoạt động của nền kinh tế (Lý Hoàng Ánh & Lê Thị Mận, 2013).
Với chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả, tín dụng đã thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay, qua đó điều hòa vốn tín dụng từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Sự điều hòa này chỉ mang tính chất tạm thời và phải được trả lãi (Lý Hoàng Ánh & Lê Thị Mận, 2013). 11 Với chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông, hoạt động tín dụng đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế. Điều này sẽ làm giảm được khối lượng giấy bạc trong lưu thông, làm giảm được chi phí lưu thông giấy bạc ngân hàng, đồng thời cho phép nhà nước điều tiết một cách linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển (Lý Hoàng Ánh & Lê Thị Mận, 2013).
Chức năng kiểm soát các hoạt động của nền kinh tế là chức năng cơ bản của hoạt động tín dụng. Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ yêu cầu tái sản xuất, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế, do đó, tín dụng còn được coi là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế (Lý Hoàng Ánh & Lê Thị Mận, 2013).5 Nguyên tắc tín dụng Tín dụng có những nguyên tắc sau: tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi, vốn vay phải sử dụng đúng mục đích. Trong đó, nguyên tắc tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi là nguyên tắc hàng đầu bởi vì phần lớn số tiền ngân hàng cho vay là tiền huy động từ khách hàng, ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Chính vì vậy người đi vay phải trả đúng số tiền mình đã vay vào đúng thời điểm đã được hai bên xác định cụ thể và được ghi nhận trong thỏa thuận vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng.