phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lí luận về chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp lớn tại ngân hàng thương mại. 7 Chƣơng II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng TMCP Việt Á. Chƣơng III: Giải phát nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng TMCP Việt Á. 8 CHƢƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP LỚN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VỚI DOANH NGHIỆP LỚN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Vai trò của doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế 1. Khái niệm về doanh nghiệp lớn Khái niệm về doanh nghiệp lớn thƣờng dựa trên một loạt các yếu tố định lƣợng và định tính, trong đó các yếu tố định lƣợng đóng vai trò cốt yếu. Các chỉ tiêu định lƣợng đƣợc thiết lập và kết hợp độc lập để xác định tầm quan trọng của doanh nghiệp, bao gồm: số vốn doanh nghiệp đầu tƣ vào cơ sở vật chất; lực lƣợng lao động của doanh nghiệp; quy mô sản xuất / doanh thu hoạt động SX.
Theo Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/08/2021 của Chính phủ, tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa nhƣ sau: Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh Doanh nghiệp Doanh nghiệp Quy mô nghiệp siêu nhỏ vừa nhỏ Tổng Tổng Tổng Khu Số lao Số lao Số nguồn nguồn nguồn vực động động lao động vốn vốn vốn I. 3 tỷ 10 20 tỷ Từ trên Từ trên 20 Từ trên Nông, lâm đồng ngƣời đồng 10 ngƣời tỷ đồng 100 ngƣời nghiệp và trở trở trở đến 100 đến 100 tỷ đến 200 thủy sản xuống xuống xuống ngƣời đồng ngƣời 3 tỷ 10 20 tỷ Từ trên Từ trên 20 Từ trên II. đồng ngƣời đồng 10 ngƣời tỷ đồng 100 ngƣời Công nghiệp trở trở trở đến 100 đến 100 tỷ đến 200 và xây dựng xuống xuống xuống ngƣời đồng ngƣời 3 tỷ 10 50 tỷ Từ trên Từ trên 50 Từ trên III. Thƣơng đồng ngƣời đồng 10 ngƣời tỷ đồng 50 ngƣời mại và dịch trở trở trở đến 50 đến 100 tỷ đến 100 vụ xuống xuống xuống ngƣời đống ngƣời (Nguồn: Nghị định số 80/2021/NĐ-CP) 9 Hiện nay tại Việt Nam chƣa có khái niệm cụ thể doanh nghiệp lớn là gì mà thƣờng chỉ dựa vào quy mô của doanh nghiệp đó để đánh giá doanh nghiệp đó thuộc loại hình doanh nghiệp nào.
Nhƣ vậy có thể hiểu tại Việt Nam, doanh nghiệp lớn là: “Doanh nghiệp có tổng nguồn vốn đạt trên 100 tỷ đồng hoặc tổng số ngƣời lao động từ 200 ngƣời trở lên”. Việc phân chia làm doanh nghiệp lớn cũng phải tùy thuộc vào ngành nghề doanh nghiệp lựa chọn SXKD, việc phân chia làm doanh nghiệp lớn, nhỏ chỉ mang tính chất tƣơng đối. Tuy khác nhau về ngành nghề kinh doanh nhƣng doanh nghiệp lớn không những có điểm chung về số lƣợng vốn lớn hay số lƣợng lao động mà còn có lịch sử hình thành lâu dài, các sản phẩm đã tạo đƣợc thể mạnh uy tín trên thị trƣờng. Đặc điểm của doanh nghiệp lớn Thứ nhất, trên thị trƣờng các DNL hoạt động và tăng trƣởng ổn định, ít biến động.
Tuy nhiên, đó cũng là bất lợi cho các DNL. Nếu các công ty vừa và nhỏ linh hoạt hơn trong công việc thích ứng với những biến đổi của thị trƣờng, thì các công ty lớn hơn có thể gặp khó khăn trong công việc làm chủ hoạt động kinh doanh của chính họ. Thứ hai, với lợi thế về quy mô vốn và nguồn nhân lực, các DNL thƣờng tham gia vào hầu hết các ngành trong nền kinh tế để thu đƣợc lợi nhuận. các ngành nghề chính nhƣ: khai thác khoáng sản, bảo hiểm, may mặc, công nghiệp nặng và các ngành nghề kinh doanh trọng điểm khác của quốc gia.
Về dịch vụ, các công ty có xu hƣớng tập trung vào lĩnh vực điện, ngân hàng, vận tải, viễn thông,… Các ngành nghề này đều yêu cầu vốn tƣơng đối lớn, kỹ năng lao động tay nghề cao, số lƣợng lớn, lợi thế tập trung ở các DNL. Thứ ba, chu kỳ kinh doanh của các DNL thƣờng diễn ra đều đặn và ổn định. Thứ tư, các sản phẩm của các DNL là các sản phẩm rất quan trọng trong nền kinh tế, do đó, các DNL có khả năng cạnh tranh cao. Tuy nhiên, các DNL thƣờng gặp phải sự cạnh tranh của các DNL trong nƣớc và các doanh nghiệp nƣớc ngoài.
Thứ năm, điều hòa, ổn định lại nền kinh tế: 10 Khi nền kinh tế gặp khủng hoảng thì các DNL luôn là ngƣời tiên phong và là đầu tàu vững chắc trong nền kinh tế quốc gia. Các công ty và các DNL luôn tạo nên sự phát triển kinh tế đồng đều và lâu dài giúp cho nền kinh tế luôn giữ đƣợc mức ổn định và làm giảm bớt các biến động kinh tế. Thứ sáu, tạo ra sự cân bằng giữa hoạt động sản xuất và kinh doanh cho một nền kinh tế thƣơng mại. Vai trò của doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế thị trường.
Doanh nghiệp lớn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, doanh nghiệp lớn giữ vai trò chủ đạo do nắm giữ những ngành nghề kinh doanh mang tính chất độc quyền, then chốt. Ngoài ra, một số doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp có vốn đầu tƣ của Nhà nƣớc nên thông qua các doanh nghiệp này, Nhà nƣớc còn tiến hành điều chỉnh một số những khiếm khuyết của nền kinh tế. Mặc dù quốc hội và chính phủ có nhiều chính sách, quy định khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhƣng không thể phủ nhận rằng, doanh nghiệp lớn vẫn không ngừng nâng cao vai trò đối với nền kinh tế.
Theo cách phân loại của Việt Nam, hiện nay thì doanh nghiệp lớn chỉ chiếm 7% tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế, nhƣng 7% các doanh nghiệp đó lại nắm giữ những ngành nghề, lĩnh vực quan trọng cũng nhƣ một khối lƣợng vốn rất lớn của cả nƣớc. Lợi nhuận và doanh thu của doanh nghiệp lớn là nguồn thu lớn của ngân sách nhà nƣớc. Doanh nghiệp lớn đem lại rất nhiều của cải cho nền kinh tế, tạo công ăn việc làm cho rất nhiều lao động và cung cấp mức thu nhập ổn định cho đại bộ phận ngƣời lao động của họ. Nếu doanh nghiệp lớn phát triển thì đồng nghĩa với nền kinh tế của đất nƣớc càng lớn mạnh.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp lớn. Hoạt động tín dụng là hoạt động lâu đời nhất và quan trọng nhất của một NHTM. Hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu chủ yếu cho NH nhƣng đồng thời 11 cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Theo“GS.
Nguyễn Văn Tiến – Học viện Ngân hàng” Tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời là một tất yếu khách quan nhằm giải quyết hiện tƣợng dƣ thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thƣờng xuyên giữa các thủ thể trong nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng là hoạt động tín dụng của NH với các chủ thể trong nền kinh tế. Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng bao gồm cả hoạt động ngân hàng với tƣ cách ngƣời đƣợc cấp tín dụng lẫn với tƣ cách ngƣời cấp tín dụng.
Song do tính phức tạp và quan trọng của nó mà khi nói tới tín dụng ngân hàng ngƣời ta muốn đề cập tới hoạt động ngân hàng với tƣ cách ngƣời cấp tín dụng. Nhƣ vậy, tín dụng đƣợc hiểu là sự vay mƣợn, sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị tài sản (vốn) từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở tín nhiệm (tin tƣởng) ngƣời sử dụng sẽ sử dụng vốn hiệu quả để hoàn trả một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Đối với một ngân hàng thƣơng mại, tín dụng là chức năng cơ bản của ngân hàng, là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng. Tín dụng ngân hàng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Đặc điểm tín dụng ngân hàng Theo“NGND. TS Tô Ngọc Hưng – Học viện Ngân hàng” Tín dụng ngân hàng mang những đặc trƣng của tín dụng. Tín dụng đƣợc cấu thành nên từ sự kết hợp của ba yếu tố chính là: lòng tin (sự tin tƣởng vào khả năng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của ngƣời cho vay đối với ngƣời đi vay), thời hạn của quan hệ tín dụng 12 (thời gian ngƣời vay sử dụng tiền vay), sự hứa hẹn hoàn trả. Và nhƣ vậy, phạm trù tín dụng có các đặc trƣng chủ yếu sau: Một là, Tín dụng là có lòng tin: bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng latinh “creditum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”.
Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của ngƣời cho vay vào ngƣời đi vay. Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhƣng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều liện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh. Trong quan hệ tín dụng “lòng tin” đƣợc biểu hiện từ nhiều phía, không chỉ có lòng tin từ một phía của ngƣời cho vay đối với ngƣời đi vay.
Nếu ngƣời cho vay không tin tƣởng vào khả năng hoàn trả của ngƣời đi vay thì quan hệ tín dụng có thể không phát sinh và ngƣợc lại, nếu ngƣời đi vay cảm nhận thấy ngƣời cho vay không thể đáp ứng đƣợc yêu cầu về khối lƣợng tín dụng, về thời hạn vay,…thì quan hệ tín dụng cũng có thể không phát sinh. Tuy nhiên, trong quan hệ tín dụng lòng tin của ngƣời cho vay đối với ngƣời đi vay quan trọng hơn nhiều bởi lẽ ngƣời cho vay là ngƣời giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho ngƣời khác sử dụng.