CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ CÁC MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG RỦI RO LÃI SUẤT. Tổng quan về lãi suất 1.1 Lãi suất - Sau một thời gian nghiên cứu về tư bản C.Mác đã kết luận: “Lãi suất là phần giá trị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê bị tư bản bị tư bản – chủ ngân hàng chiếm đoạt”. - John Maynard Keynes lập luận rằng lãi suất là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền “Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho “sở thích chi tiêu tư bản”. - Trái với Keynes, các nhà kinh tế học cổ điển trước đó đã coi lãi suất là một hiện tượng thực tế, được xác định bởi áp lực của năng suất - cầu về vốn cho mục đích đầu tư và tiết kiệm.2 Lãi suất ngân hàng và phân loại 1.1 Khái niệm lãi suất Ngân hàng - Theo các nhà kinh tế hiện đại: “Lãi suất Ngân hàng là tỷ lệ phần trăm giữa tiền vốn gửi vào hoặc cho vay với mức lãi trong một thời kỳ nhất định do ngân hàng quy định hoặc thỏa thuận phù hợp với hệ thống ngân hàng”.
- Lãi suất thể hiện tỷ lệ phần trăm của tiền gốc trong khoảng thời gian, thường là 1 tháng, 6 tháng, 1 năm. Lãi suất thực chất là mức giá phải trả cho quyền sử dụng vốn tín dụng trong một thời gian xác định.2 Phân loại lãi suất Ngân hàng - Các loại lãi suất phổ biến trong ngân hàng : a. Phân loại theo tính chất khoản vay: Lãi suất tiền gửi (lãi suất đầu vào, lãi suất huy động): là lãi suất Ngân hàng phải trả cho các khoản tiền gửi vào. Lãi suất tiền gửi phụ thuộc vào loại tiền, kỳ hạn gửi, quy mô tiền, loại tài khoản.
5 of Economics, Hue University Lãi suất cho vay ( lãi suất đầu ra, lãi suất tín dụng ): là lãi suất người đi vay phải trả cho Ngân hàng do sử dụng vốn vay của Ngân hàng. Lãi suất cho vay phụ thuộc vào loại tiền, kỳ hạn vay, mục đích, phương thức vay, quan hệ giữa khách hàng – Ngân hàng. Lãi suất cơ bản: là lãi suất được các Ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình. Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các Ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên Ngân hàng.
Lãi suất chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác nhưng chưa đến hạn thanh toán của khách hàng. Nó cũng được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay khi Ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng. Lãi suất tái chiết khấu: áp dụng khi NHTW tái cấp vốn cho các NHTM dưới hình thức chiết khấu lại nhiều thương phiếu hoặc giấy tờ có giá trị ngắn hạn chưa đến hạn của các Ngân hàng. Nó cũng được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay khi NHTW cấp tiền vay cho Ngân hàng.
Phân loại theo giá trị thực của tiền lãi: Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ hay nói cách khác là loại lãi suất chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát Lãi suất thực tế: là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát. Hay nói cách khác là lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát. Theo nhà kinh tế học I. Fisher: (1+ lãi suất danh nghĩa) = (1+ Lãi suất thực tế)(1+ tỷ lệ lạm phát) Lãi suất thực trả: lãi suất ghi trên hợp đồng thường là tỷ lệ %/năm, tuy nhiên việc trả lãi lại có thể diễn ra hàng tháng,6 tháng, quý,…, so với mức lãi suất ghi trên hợp đồng thì mức lãi suất thực trả sẽ cao hơn mức lãi suất ghi trên hợp đồng c.
Phân loại theo loại tiền: Lãi suất ngoại tệ: là loại lãi suất đi vay và cho vay bằng đồng ngoại tệ 6 of Economics, Hue University Lãi suất nội tệ: là loại lãi suất đi vay và cho vay bằng đồng nội tệ d. Phân loại theo tính linh hoạt của lãi suất: Lãi suất cố định: là lãi suất áp dụng cố định trong suốt thời hạn vay. Lãi suất thả nổi: là lãi suất có thể thay đổi lên xuống theo lãi suất thị trường trong thời hạn tín dụng và có thể báo trước hoặc không báo trước. Phân loại theo phạm vi tín dụng quốc gia: Lãi suất quốc gia: là lãi suất áp dụng cho các hợp đồng tín dụng trong quốc gia.
Lãi suất quốc tế: là lãi suất áp dụng cho các hợp đồng tín dụng quốc tế 1. Rủi ro và rủi ro lãi suất 1. Rủi ro - Thuật ngữ rủi ro được nhiều nhà kinh tế học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau + Một trong những quan điểm đầu tiên được ra bởi Allan H.Willett “rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất”. Joel Bessis lại cho rằng “Rủi ro là những điều không chắc chắn dẫn đến sự biến đổi bất lợi về lợi nhuận hay dẫn đến thua lỗ” + Trong khi đó Frank H.Knight lại có một quan điểm khác về rủi ro “rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được”.
Marilu Hurt Mr Carty quan niệm: "Rủi ro là một tình trạng trong đó biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được". - Các định nghĩa trên tuy có sự khác biệt nhưng đều hướng tới nội dung: Rủi ro xảy ra khi ta không chắc chắn, không mong đợi về sự việc, hiện tượng và nó dẫn đến kết quả không mong muốn. - Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là một biến cố không mong đợi nào đó xảy ra gây ảnh hưởng tới tình hình tài chính hoặc các mục tiêu đã định của ngân hàng.2 Rủi ro lãi suất 1. Khái niệm - Theo Thomas P.Fitch trong cuốn Dictionary of Banking Terms: “Rủi ro lãi suất là rủi ro khi thay đổi lãi suất thị trường dẫn đến TS sinh lời của NH giảm giá trị”.
7 of Economics, Hue University - Timothy W.Koch cho rằng: “Rủi ro lãi suất là sự thay đổi tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá thị trường của vốn ngân hàng xuất phát từ sự thay đổi của mức lãi suất”. - Theo Interest rate risk - Comptroller’s handbook (Narrative - June 1997, Procedures - March 1998), Office for Comptroller of the Currency (OCC), USA: “Rủi ro lãi suất là rủi ro đối với các khoản thu nhập và giá trị thị trường của danh mục đầu tư bắt nguồn từ sự biến động của tỷ lệ lãi suất”. - Rủi ro lãi suất là những rủi ro mà các chủ thể kinh tế gặp phải khi có biến động lãi suất. Rủi ro lãi suất là nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng khi lãi suất thị trường có sự biến động.
- Như vậy, rủi ro lãi suất là loại rủi ro đối với các khoản thu nhập và giá trị thị trường của danh mục đầu tư bắt nguồn từ sự biến động của tỷ lệ lãi suất. Như vậy, rủi ro lãi suất xuất hiện khi có sự biến động của lãi suất thị trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất làm thu nhập của Ngân hàng bị giảm, chi phí của Ngân hàng gia tăng, từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh cuối cùng của Ngân hàng.2 Phân loại rủi ro lãi suất a. Rủi ro lãi suất tái tài trợ TS Nợ - Xảy ra do kỳ hạn TS Có lớn hơn kỳ hạn TS Nợ khiến chi phí huy động vốn cao hơn tiền lãi các khoản đầu tư. Rủi ro này xuất hiện khi lãi suất thị trường tăng lên.
Ta có ví dụ sau: - Giả sử, Ngân hàng cho vay 100 triệu đồng có lãi suất cố định 8%/năm và kỳ hạn là 2 năm. Để có khoảng tiền 100 triệu đó Ngân hàng huy động trên thị trường với lãi suất 7%/ năm, có kỳ hạn 1 năm. + Cuối năm 1, Ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất giữa khoảng tiền vay 1 năm và cho vay 2 năm trên là 100 x (8% - 7%) = 1 triệu đồng. Đồng thời, vào thời điểm này, để hoàn trả cho khoản tiền vay 100 triệu, kỳ hạn 1 năm trên, Ngân hàng phải đi vay 1 khoản khác.
Hoạt động trên được gọi là tái tài trợ: là tình trạng trong đó kỳ hạn của TS Có dài hơn kỳ hạn của TS Nợ + Nếu lãi suất thị trường năm thứ 2 không đổi, Ngân hàng vẫn thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 1 triệu đồng. Tuy nhiên, nếu lãi suất sang năm thứ 2 8 of Economics, Hue University tăng lên là 9% thì ngân hàng sẽ bị lỗ 100 x (8% - 9%) = -1 triệu đồng. Nếu lãi suất thị trường năm 2 lớn hơn 9% ngân hàng sẽ bị lỗ cả 2 năm. + Kết quả là, trong mọi trường hợp nếu ngân hàng duy trì TS Có có kỳ hạn dài hơn so với TS Nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với TS Nợ.
Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn bổ sung trong những năm tiếp theo lớn hơn mức lãi suất đầu tư tín dụng dài hạn. Rủi ro lãi suất tái đầu tư TS Có - Xảy ra do kỳ hạn TS Có nhỏ hơn kỳ hạn TS Nợ khiến chi phí huy động vốn nhỏ hơn tiền lãi các khoản đầu tư. Rủi ro này xuất hiện khi lãi suất thị trường giảm xuống. Ta có ví dụ tương tự như trên: - Nhưng kỳ hạn của vốn huy động là 2 năm, còn kỳ hạn của khoản cho vay là 1 năm.
Cuối năm 1, Ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất giữa khoảng tiền vay 1 năm và cho vay 2 năm trên là 100 x (8% - 7%) = 1 triệu đồng. Vì kỳ hạn tiền cho vay là 1 năm, tiền vay là 2 năm nên sau năm 1 Ngân hàng tiếp tục cho vay với lãi suất thị trường. Hoạt động trên gọi là tái đầu tư: là tình trạng trong đó kỳ hạn của TS Có ngắn hơn kỳ hạn của TS Nợ. - Nếu lãi suất thị trường năm thứ 2 không đổi, Ngân hàng vẫn thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 1 triệu đồng.
Tuy nhiên, nếu lãi suất sang năm thứ 2 tái đầu tư giảm xuống còn 6% thì Ngân hàng chịu lỗ là 100 x (6% - 7%) = -1 triệu đồng.