Chương 1. Cơ sở lý luận về nợ xấu và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu. Thực trạng nợ xấu tại ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt giai đoạn 2018 - 2023. Dữ liệu và mô hình nghiên cứu Chương 4.
Kiến nghị và đề xuất giải pháp hạn chế nợ xấu tại LPBank. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU 1. Cơ sở lý luận về nợ xấu 1. Khái niệm Nợ xấu - một thuật ngữ quen thuộc được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới với từ ngữ “Non - performing loan” (NPL), đôi khi được gọi là “bad debt”, “doubtful debt” (Fofack, 2005) để ám chỉ các khoản nợ khó đòi.
Đối với Berger & De Young (1997) thì đó là “các khoản vay có vấn đề mà ngân hàng khó có thể thu hồi được”. Mỗi một tác giả, mỗi một ngân hàng trung ương và các tổ chức quốc tế riêng biệt có những cách xác định khái niệm về nợ xấu. Vì vậy mà hiện nay vẫn chưa có một quy tắc hay chuẩn mực thống nhất nào nói về chủ đề nợ xấu. Theo quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF, 2004): “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ”.
Nói cách khác, đây là một khoản vay quá hạn mà việc thu hồi rất khó khăn khi mà khách hàng đã mất khả năng thanh toán một phần hoặc toàn bộ số gốc và lãi theo đúng các điều kiện trong hợp đồng. Theo Ngân hàng Trung ương liên minh Châu Âu, nợ xấu bao gồm: “ (1) Nợ không thể thu hồi được là: những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ; những khoản nợ mà khách hàng chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.(2) Nợ có thể thu nhưng không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng: là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc có tài sản thế chấp nhưng không đủ để trả nợ”. Theo chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) (IFRS, 2005) thì sẽ thường dùng thuật ngữ “khoản nợ bị giảm giá trị” hoặc là “khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị” (Impaired Loans) thay vì dùng khái niệm nợ xấu (nonperforming Loans). Về cơ bản IAS39 chủ yếu 9 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khách hàng vay nợ hơn là thời gian nợ quá hạn đã tới 90 ngày hay chưa.
Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS, 2006) nợ xấu là “khoản nợ đã quá hạn và ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành đồng gì để cố gắng thu hồi”. Ở đây BCBS không đưa ra thời gian giới hạn cụ thể một khoản vay bị coi là nợ xấu bởi điều này tùy thuộc vào quy định của mỗi đất nước. Còn tại đất nước Việt Nam, theo khoản 8 điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN ban hành ngày 30 tháng 7 năm 2021: “nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5”. Trong đó, nợ nhóm 3 còn gọi là nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày và các khoản nợ quy định theo điểm c khoản 1 điều 10 tại Thông tư; nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày và các khoản nợ quy định theo điểm d khoản 1 điều 10 tại Thông tư; nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) thì bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày và các khoản nợ quy định tại điểm đ khoản 1 điều 10 tại Thông tư.
Tóm lại, tác giả áp dụng khái niệm nợ xấu theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN vào bài nghiên cứu của mình và được trình bày cụ thể ở mục 1. Phân loại nợ Theo khoản 1 điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN quy định phân loại các khoản nợ theo 5 nhóm như sau: a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Khoản nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; (ii) Khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn; (iii) Khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại khoản 2 Điều này. 10 b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: (i) Khoản nợ quá hạn đến 90 ngày, trừ khoản nợ quy định tại điểm a (ii) Khoản này, khoản 3 Điều này; (ii) Khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều này; (iii) Khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này. c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này; (ii) Khoản nợ gia hạn nợ lần đầu còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều này; (iii) Khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này; (iv) Khoản nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi: - Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6 Điều 126 Luật Các TCTD (đã sửa đổi, bổ sung); - Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 127 Luật Các TCTD (đã sửa đổi, bổ sung); - Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 128 Luật Các TCTD (đã sửa đổi, bổ sung); (v) Khoản nợ trong thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra; (vi) Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, 11 chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (vii) Khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này; (viii) Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này.
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: (i) Khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này; (ii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này; (iii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều này; (iv) Khoản nợ quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Điều này chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (v) Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra đến 60 ngày mà chưa thu hồi được; (vi) Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (vii) Khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này; (viii) Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này. đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: (i) Khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; 12 (ii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; (iv) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2 Điều này; (v) Khoản nợ quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Điều này chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (vi) Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra trên 60 ngày mà chưa thu hồi được; (vii) Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (viii) Khoản nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang bị phong tỏa vốn và tài sản; (ix) Khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều này; (x) Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này. Ảnh hưởng của nợ xấu Sự gia tăng của nợ xấu là mối lo ngại lớn của giới chuyên môn, các NHTM, Chính phủ và công chúng bởi nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến riêng ngân hàng mà còn lên toàn bộ nền kinh tế, làm ứ đọng dòng vốn đầu tư, gây nguy hiểm cho an ninh tài chính quốc gia. Đối với nền kinh tế Nợ xấu làm ứ đọng dòng vốn đầu tư.
Khi nợ xấu tăng nhanh, để đảm bảo vấn đề rủi ro thanh khoản, ngân hàng sẽ thận trọng hơn trong việc cấp tín dụng từ đó làm hạn 13 chế khả năng tiếp cận vốn của những người có nhu cầu. Nhất là trong thời kỳ hiện nay, theo báo cáo NHNN 2024 cuối năm 2023 tỷ lệ tín dụng/GDP khoảng 133%, tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn hệ thống NHTM tăng lên 4,03%.