Chương 1 tập trung vào lý do chọn đề tài, xác định các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần hoàn thành tại luận văn này. Từ đó, xác định các đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu tương ứng. Đồng thời, trình bày các đóng góp chính của luận văn này. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lược khảo nghiên cứu Chương 2 tập trung vào việc tổng hợp các khung lý thuyết nền tảng, lược khảo các nghiên cứu liên quan và xác định các khoảng trống nghiên cứu nhằm tạo cơ sở đề xuất cho mô hình nghiên cứu tại chương tiếp theo.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 3 sẽ tập trung vào đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Đồng thời, trình bày quy trình và các phương pháp thu thập mẫu cùng với xử lý tính toán. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4 sẽ tập trung đánh giá tình trạng nợ xấu tại Agribank Tiền Giang và tiến hành xử lý kết quả thu thập dữ liệu sơ cấp để đánh giá các yếu tố tác động đến nợ xấu tại chi nhánh. Từ đó thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương 5 sẽ tiến hành kết luận các mục tiêu đã đạt được của luận văn và đề xuất các hàm ý cho chi nhánh nhằm hạn chế nợ xấu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về nợ xấu tại ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về nợ xấu tại ngân hàng thương mại Nợ xấu (Non – Performing Loans) là cụm từ có thể thay thế cho tên gọi của nợ khó đòi tại ngân hàng thương mại (Fofack, 2005) hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger và De Young, 1997).
Hoặc tại một khía cạnh khác thì nợ xấu được xem là các khoản nợ mà khách hàng vay không thể trả lại được cho ngân hàng khi đã đến hàng, do đó các ngân hàng không có bất cứ khoản lợi nào được thu từ nó (Rose, 2002). Theo IMF - Quỹ tiền tệ quốc tế (2002) thì nợ xấu được xem là khoản nợ mà khách hàng vay của ngân hàng đã quá hạn trả lãi hay gốc/lãi quá 90 ngày, hay là các khoản lãi vào kỳ trước đã được nhập gốc chưa được hoàn trả từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản vay được tái cấp vốn chậm trả theo thỏa thuận. Mặt khác, nó có thể là các khoản phải trả đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có những nguyên nhân được hình thành để ngân hàng nghi ngờ về sự hoàn trả gốc lãi không được đầy đủ. Theo Basel II (2004) thì một khoản nợ được coi là nợ xấu khi nó hình thành thời gian quá hạn hoàn trả có thể là từ 30 – 89 ngày; 90 – 179 ngày và trên 180 ngày.
Với thời gian quá hạn này thì các ngân hàng nhận thấy khách hàng vay không thực hiện hay không có khả năng hoàn trả lãi hay cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn, đồng thời bao gồm cả các hành động cố gắng của ngân hàng trong giai đoạn này cũng không thể thu hồi. Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng nợ xấu là khoản cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng đã đến hạn thanh toán mà họ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ vô điều kiện, điều này làm cho ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi. Các khoản nợ này bị quá thời hạn thanh toán từ 91 ngày trở lên. Mặt khác, các tài sản đảm bảo đen thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh tại ngân hàng sẽ được tiến hành thanh lý để xử lý nợ nhưng khả năng không đủ để bù đắp cho khoản nợ này.
7 Ngoài ra, nợ xấu được xác định thông qua quy định chung của quốc tế và hiệu chỉnh theo tình hình kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia với hoạt động kinh doanh riêng của hệ thống ngân hàng thương mại. Theo TT11/2021/TTNHNN thì các khoản nợ quá hạn thuộc nhóm 3,4,5 được xếp vào tính chất khó thu hồi hay dẫn đến không thu hồi được thì được xem là nợ xấu. Các khoản nợ này gia tăng thì các ngân hàng thương mại buộc phải đối diện với sự suy giảm tài sản, lợi nhuận lẫn uy tín của mình do bị đe dọa bởi các khoản thanh toán tiền gửi tiết kiệm khi đến hạn. Vì vậy, nợ xấu được xem là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng khoản cấp tín dụng và dấu hiệu đáng báo động của rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại.
Tóm lại tại luận văn này nợ xấu tại ngân hàng thương mại phải bao hàm hai nội dung chính đó là khoản nợ vay của các đối tượng khách hàng đã bắt đầu hình thành sự quá hạn hoàn trả gốc và lãi từ 90 ngày trở lên. Đây là các nhóm nợ quá hạn 3, 4, 5 theo TT11/2021/TTNHNN. Thứ hai, là khoản nợ gốc lãi dù chưa quá hạn 90 ngày nhưng có những bằng chứng mà ngân hàng thương mại thu thập được, nghi ngờ về năng lực của khách hàng về sự hoàn trả này. Phân loại và cách thức đánh giá nợ xấu tại ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì phân loại nợ xấu được xem là quá trình đánh giá các khoản nợ của khách hàng vay mà tính hoàn trả hay khả năng trả rất thấp, không có khả năng trả nợ.
Hoạt động phân loại nợ xấu là vấn đề thiết yếu và thường xuyên trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Nhưng nó tùy thuộc vào khẩu vị vui ro của các ngân hàng thương mại chứ không có tiêu chuẩn quốc tế hay quy định thống nhất. Trong đó thì tiêu đánh giá nợ xấu thường dựa trên các quan điểm: Đánh giá khả năng trả nợ dựa trên lịch sử tín dụng của khách hàng, tài sản thế chấp, lương lượng tiền và dòng tiền vào ra của khách hàng. Phân tích các nhóm nợ cùng loại để xác định các trường hợp có dấu hiệu không tốt hoặc xu hướng hình thành rủi ro.
Đối với các khách hàng cá nhân hay hộ kinh doanh thì đánh giá khả năng trả nợ 8 dựa trên các chỉ tiêu tài chính, dòng thu nhập, mục đích sử dụng vốn vay hay tình trạng nợ,… Theo TT11/2021/TTNHNN cho phép các ngân hàng thương mại hay các TCTD tại Việt Nam tiến hành phân loại các khoản nợ theo hai phương pháp định tính lẫn định lượng tùy thuộc vào khẩu vị rủi ro của ngân hàng. Nhưng đa số các ngân hàng thương mại đều thực hiện lượng hóa các dữ liệu để phân loại và xem các yếu tố định tính mang tính tham khảo, trừ các ngân hàng thương mại có vốn sở hữu lớn từ Nhà nước. Trong đó, thì các ngân hàng thương mại đều có chung một sự thống nhất là chia nợ thành 5 nhóm đó là: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì ngân hàng có thể thu hồi được cả gốc lẫn lãi như trên hợp đồng tín dụng. Nhưng khoản nợ này có thể đã quá hạn thanh toán dưới 10 ngày nhưng vẫn được đánh giá có thể thu hồi gốc và lãi hay lãi phạt quá hạn đúng ngày.
Nhóm 2 (Nợ cần được chú ý): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 10 đến 90 ngày hoặc khoản nợ có sự điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần thứ nhất. Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 91 đến 180 ngày hoặc, nợ gia hạn lần thứ nhất. Với khoản nợ này thì ngân hàng có thể miễn giảm lãi cho khách hàng do không đủ khả năng chi trả lãi theo thỏa thuận ban đầu trên hợp đồng tín dụng. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 181 đến 360 ngày.
Nợ cơ cấu lần thứ nhất dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần thứ nhất và tiến hành cơ cấu lần thứ hai. Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất gốc): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi trên 360 ngày, nhóm nợ này thì các khoản cơ cấu lần thứ nhất và lần thứ hai không thể thanh toán được gốc lãi cho ngân hàng. Dù được phân loại theo định lượng hay định tình thì các khoản nợ thuộc nhóm quá hạn 3, 4, 5 được xếp là nợ xấu của ngân hàng. Hay nói cách khác, khi các ngân hàng 9 thương mại có các nhóm nợ này quá nhiều thì chất lượng tín dụng, rủi ro tín dụng đang dần gia tăng trong tương lai nếu không có sự cải thiện tình hình.
Do đó, chỉ tiêu nợ xấu được phản ánh như sau: Tỷ lệ nợ xấu = ổ á ị ợ á ạ ó , , ∗ % ổ ư ợ Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2015) 2. Tác động của nợ xấu tại ngân hàng thương mại Nguyễn Văn Tiến (2015) và Phan Thị Thu Hà (2013) đều nhấn mạnh những tác động không tốt của nợ xấu tại các ngân hàng thương mại, xuất phát từ bản chất nó tạo ra sự suy giảm chất lượng tín dụng tại ngân hàng. Hay nói cách khác, khi nợ xấu hình thành và tăng nhanh thì sức khỏe tài chính, đánh giá về năng lực quản trị rủi ro,… có sự suy giảm. Nợ xấu khiến cho lợi nhuận hay các chỉ số tăng trưởng của ngân hàng, thị trường đều bị tác động, nếu kéo dài thì các ngân hàng thương mại có thể bị phá sản và tạo ra hiệu ứng lan rộng nguy hiểm cho cả nền kinh tế (Rose, 2002).
Vì thế, nợ xấu tại ngân hàng thương mại không chỉ có tác động tiêu cực đến tổ chức của nó mà còn lan đến các đối tượng khác. Tác động của nợ xấu đến kinh tế thị trường ngân hàng thương mại được xem là trung gian tài chính, duy trì huyết mạch của nền kinh tế do đó khi nợ xấu gia tăng và lan rộng thì sẽ gây ra sự đình trệ cho thị trường. Vì khi nợ xấu xuất hiện thì buộc các ngân hàng phải tiến hành trích lập dự phòng, điều này tác động đến việc lượng vốn lưu thông vào nền kinh tế sẽ bị hạn chế, hay nói cách khác dòng vốn luân chuyển sẽ bị tắc nghẽn lại, điều này làm cho các đối tượng thiếu vốn sẽ khó hay không tiếp cận được nguồn vốn để sản xuất kinh doanh. Chính vì thế sẽ tạo ra các hiện tượng như thất nghiệp, suy giảm an sinh xã hội, hàng hóa tiêu thụ kém đi,… (Masood và Ashraf, 2012; Nkusu, 2011).