Lời mở đầu. Trình bày vấn đề, câu hỏi, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp thực hiện nghiên cứu đề tài. Cơ sở lý luận về lạm phát và mô hình P-star. Mục tiêu của chương 2 nhằm khái quát lý thuyết về lạm phát trong nền kinh tế.
Trên cơ sở lý thuyết nền của mô hình, trình bày phương trình mô hình theo từng điều kiện. Đồng thời, tóm lược một số nghiên cứu trước đây có liên quan. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 3. Phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.
Mục tiêu của chương 3 nhằm trình bày sơ lược điều kiện kinh tế tại Việt Nam, đồng thời, trình bày diễn biến lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Từ đó, cung cấp nền tảng đánh giá cho kết quả từ mô hình P-star. Kiểm định và phân tích nhân tố tác động đến lạm phát bằng mô hình P- star. Mục tiêu của chương 4 nhằm kiểm định lại tính phù hợp của mô hình trong điều kiện Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.
Trên cơ sở phù hợp, nhận định và phân tích chi tiết nhân tố tác động đến lạm phát bằng mô hình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chương 2. Cơ sở lý luận về mô hình P-star 2. Giới thiệu về mô hình P-star Mô hình P-star lần đầu tiên được đề cập đến như một dấu hiệu đơn giản đo lường áp lực lạm phát.
P* là mức giá được xác định bởi cung tiền hiện tại và mức cân bằng của thị trường hàng hoá và tài chính, gọi là mức cân bằng. Do có độ trễ trong điều chỉnh đối với những thay đổi liên quan đến tiền tệ không biết trước, mức giá hiện tại phải tăng tạm thời với tốc độ nhanh hơn mức cân bằng để tạo ra mức cân bằng mới tương ứng với những thay đổi tiền tệ này. Những phân tích của Hallman, Porter, và Small (1991) đã cho thấy quan điểm này trong một nghiên cứu mô hình dự báo lạm phát, thường được gọi là mô hình P- star vì mô hình này cho thấy mức giá cân bằng P* mà mức giá thực P có khuynh hướng điều chỉnh hướng đến. Từ chênh lệch giữa mức giá cân bằng và mức giá thực, (P* - P), mô hình P-star dự báo hướng dịch chuyển của tỷ lệ lạm phát.
Chính xác hơn, mô hình dự báo lạm phát sẽ tăng, giảm hay đứng yên khi mức giá thực thấp hơn, cao hơn hoặc bằng với mức giá cân bằng. Mô hình P-star là kết hợp giữa lý thuyết số lượng tiền tệ và kinh nghiệm thực tế quan sát được của độ trễ trong điều chỉnh giá. Những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mô hình P-star đã được thực hiện tại hầu hết các quốc gia, tuy nhiên, đo lường lạm phát tại các quốc gia lớn thường cho kết quả tốt hơn tại các quốc gia nhỏ3. Theo Kool và Tatom (1994), chế độ tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng quan trọng đến việc xác định giá và lạm phát.
Mô hình P-star cổ điển giả định rằng mức giá cân bằng là một hàm số của cung tiền nội tệ. Tuy nhiên, với chế độ tỷ giá hối đoái cố định, mức giá nội địa tại một quốc gia nhỏ sẽ chịu ảnh hưởng từ bên ngoài và khối lượng tiền nội địa trở nên do mức cầu quyết định. Do đó, mô hình P-star có thể được chia ra dựa theo điều kiện kinh tế gồm trong nền kinh tế đóng, nền kinh tế mở có tỷ giá hối đoái cố định. Các điều kiện kinh tế phù hợp với mô hình P-star 2.
Mô hình P-star trong nền kinh tế đóng Nền kinh tế đóng là nền kinh tế không có giao dịch với các nền kinh tế khác trên thế giới, không có xuất nhập khẩu, không có chu chuyển vốn quốc tế. Những thay đổi trong chính 3 Hoeller và Poret (1991) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 sách tiền tệ và thị trường chứng khoán dựa trên những quyết định chính sách và bản thân nền kinh tế. Mô hình P-star về mặt lý thuyết đơn giản và dễ hiểu. Từ lý thuyết số lượng tiền tệ, được xác định như sau: (2.4) trong đó, là khối lượng cung tiền, là vòng quay tiền, và là sản lượng thực.
Tương tự, với mức giá cân bằng trong nước là mức giá được giả định hội tụ trong dài hạn, được xác định như sau: (2.5) trong đó, , lần lượt là giá trị cân bằng của vòng quay tiền và sản lượng đầu ra trong dài hạn. là giá trị của vòng quay tiền dựa trên hàm cầu tiền, xảy ra khi thu nhập bằng. thể hiện mức giá phổ biến khi thu nhập bằng với với khối lượng tiền thực.6) Lấy logarit công thức (2.7) trong đó, logarit được biểu thị bằng chữ viết thường của ký tự viết hoa tương ứng.7) chính là chênh lệch giá trong nước (GAPD). Chênh lệch giữa và cho thấy được hướng dịch chuyển của tỷ lệ lạm phát.
Như vậy, tỷ lệ lạm phát dịch chuyển chịu ảnh hưởng từ chênh lệch của hai nhân tố là sản lượng thực ( ) và vòng quay tiền ( ), hay nhân tố thực và nhân tố tiền tệ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Trường hợp nhỏ hơn , từ công thức (2.7), ta thấy, nếu tương ứng với khối lượng cung tiền m, buộc phải thấp hơn hoặc sản lượng thực hiện tại tăng cao hơn sản lượng thực cân bằng hoặc cả hai. Sau những yếu tố như độ trễ trong cầu tiền đã kết thúc (work out), tốc độ lưu chuyển tiền sẽ tăng lên , do đó, dịch chuyển đường tổng cầu danh nghĩa lên mức dài hạn tương ứng với khối lượng cung tiền m. Sau khi những độ trễ trong hình thành những kỳ vọng lạm phát và trong dịch chuyển tiền lương danh nghĩa đã được khắc phục (overcome), đường cong tổng cung ngắn hạn sẽ dịch chuyển lên trên.
Sau những điều chỉnh, đường cong tổng cầu dài hạn giao với đường cong tổng cung dài hạn tại mức giá cân bằng, khi đó, tỷ lệ lạm phát có khuynh hướng tăng. Ngược lại, khi lớn hơn , có khuynh hướng dịch chuyển giảm về hướng nên tỷ lệ lạm phát có khuynh hướng giảm. Đối với trường hợp sản lượng thực, giả định vòng quay tiền cân bằng ( ), khi đó, nếu nhỏ/lớn hơn , nghĩa là chênh lệch ( ) âm/dương, thì chênh lệch ( ) sẽ âm/dương tương ứng. Nghĩa là, khi sản lượng thực hiện tại thấp/cao hơn sản lượng cân bằng trong điều kiện vòng quay tiền cân bằng, sản lượng thực sẽ có khuynh hướng tăng/giảm hướng về mức cân bằng, khi đó, tác động làm mức giá hiện tại dịch chuyển tăng/giảm lên mức giá cân bằng.
Nói cách khác, khi sản lượng thực hiện tại không bằng với mức cân bằng, áp lực lạm phát sẽ điều chỉnh mức giá hiện tại về mức giá cân bằng tương ứng. Đối với trường hợp vòng quay tiền, giả định sản lượng thực cân bằng ( = 0), khi đó, nếu nhỏ/lớn hơn , nghĩa là chênh lệch ( ) dương/âm, thì chênh lệch ( ) sẽ dương/âm tương ứng. Nghĩa là, khi vòng quay tiền hiện tại thấp/cao hơn sản lượng căn bằng trong điều kiện sản lượng thực cân bằng, vòng quay tiền hiện tại sẽ có khuynh hướng tăng/giảm về mức cân bằng, khi đó, tác động làm mức giá hiện tại tăng/giảm lên mức cân bằng. Nói cách khác, khi vòng quay tiền không bằng với mức cân bằng (cung tiền không toàn dụng – nghĩa là thừa/thiếu tiền trong lưu thông), áp lực lạm phát sẽ điều chỉnh mức giá hiện tại về mức giá cân bằng tương ứng.
Hệ thống lại, ta có Bảng 2.1 thể hiện quan hệ giữa chênh lệch sản lượng, vòng quay tiền và lạm phát: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quan hệ giữa chênh lệch sản lượng, vòng quay tiền và lạm phát Nhân tố thực (real factor) ( ) ( ) Nhân tố ( ) Lạm phát tăng Lạm phát giảm tiền tệ (| | | |) (monetary Lạm phát tăng factor) (| | | |) ( ) Lạm phát tăng Lạm phát giảm (| | | |) Lạm phát giảm (| | | |) Hallman và cộng sự (1991) đã chỉ ra rằng cân bằng trong dài hạn thì p = p*. Hay nói cách khác, mức giá hiện tại luôn có khuynh hướng điều chỉnh về mức cân bằng. Từ mô hình hồi quy từ dữ liệu nền kinh tế Mỹ 1870-1988, Hallman đưa ra một phương trình kinh tế lượng để phân tích lạm phát cho nền kinh tế Mỹ như sau: ∑ ( ) ∑ (2.8) Trong đó, đại diện cho lạm phát, ( ) là chênh lệch của giá và là sai số của mô hình.
Bởi vì số liệu về lạm phát thường không có tính dừng (nonstationary) nên được sử dụng như là một cách để giải quyết vấn đề của kinh tế lượng. Các độ trễ lần lượt từ 1 đến 4 của i cũng được thử nghiệm để tìm kiếm mô hình giải thích có ý nghĩa nhất. Một trong những nhân tố cấu thành nên kỳ vọng lạm phát cho giai đoạn hiện tại là lạm phát đã xảy ra trong quá khứ. Do vậy, biến là độ trễ của lạm phát cũng được đưa vào.
Trong khi đó, độ trễ của chênh lệch giá ( ) giải thích cho độ trễ thời gian mà chúng ảnh hưởng tới chiều hướng của lạm phát thực tế. Như vậy, mối quan hệ trong phương trình hồi quy trên có thể giúp chúng ta kiểm nghiệm sự chênh lệch của mức giá trong nước lên sự thay đổi của lạm phát và đảm bảo sự có mặt của cả nhân tố thực (sản lượng thực), tiền tệ (vòng quay tiền) lẫn giá trị kỳ vọng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mô hình P-star trong nền kinh tế nhỏ, mở cửa và cố định tỷ giá hối đoái Nền kinh tế nhỏ, mở cửa và cố định tỷ giá hối đoái là nền kinh tế duy trì chính sách tỷ giá hối đoái cố định đồng thời thực hiện chính sách tiền tệ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của nền kinh tế lớn có ảnh hưởng.
Một chế độ tỷ giá hối đoái cố định thường được neo trong hệ thống so với một quốc gia lớn, quốc gia lớn này thiết lập chính sách tiền tệ nhằm những mục tiêu quốc nội riêng, độc lập với những mục tiêu của những quốc gia nhỏ trong hệ thống. Quốc gia lớn được giả định đủ lớn để không chịu ảnh hưởng bởi việc thực thi chính sách và tác động từ những quốc gia nhỏ. Ngược lại, mỗi quốc gia nhỏ neo chính sách tiền tệ theo quốc gia lớn và duy trì mục tiêu tỷ giá hối đoái cố định. Chính vì điều này mà chính sách tiền tệ của nước lớn có thể lan truyền sang nước nhỏ thông qua kênh tỷ giá hối đoái.