Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về thanh khoản của ngân hàng Chương | sẽ trình bày khái quát cơ sở lý thuyết về thanh khoản, rủi ro thanh khoản và một số khái niệm liên quan, trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu, tóm tắt lại kết quả nghiên cứu về thanh khoản trong và ngoai nước. - _ Chương 2: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 2 sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài, sau đó trình bày lý thuyết về phương pháp nghiên cứu và giới thiệu bộ dữ liệu được sử dụng. - _ Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 3 sẽ trình bày toàn bộ các bước tiễn hành phân tích, sau đó tiến hành trình bày và giải thích kết quả bao gồm: xác định chiều hướng và đánh giá mức độ tác động của các biến giải thích có ý nghĩa. Ngoài ra, chương 3 cũng sẽ trình bày thêm một sô đê xuât, kiên nghị của tác giả vê van đê nghiên r cuu.
CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYET VE THANH KHOẢN CUA NGÂN HANG 1. Thanh khoản của ngân hàng thương mại Crockett (2008) cho rằng “Kha năng thanh khoản dễ nhận biết hơn so với định nghĩa” và nó luôn là một khái niệm khó nắm bắt. Tuy nhiên, về bản chất, thuật ngữ “(hanh khoản” trong tài chính được nhìn nhận va sử dụng dưới 2 góc độ chính như sau: Dưới góc độ tài sản, một tài sản dé dàng chuyền đổi từ dạng vật chất thành dạng tiền mặt và ngược lại, thì được coi là một tài sản có tính thanh khoản. Perter Rose (2008) đã nhận định rằng “Một tài sản có tính thanh khoản cao phải thỏa mãn đông thời hai điều kiện: Có thị trường giao dịch san sàng để chuyển hóa tài sản thành tiền mặt và có sự ồn định về mặt giá cả, không bị tác động bởi thời gian giao dịch và số lượng giao địch”.
Vì vậy, thước đo khả năng thanh khoản của tài sản là thời gian và chi phí dé một tài sản chuyền hóa thành tiền mặt. Dưới góc độ của một doanh nghiệp nói chung, thanh khoản được hiểu là lượng tiền và tương đương tiền mà doanh nghiệp sở hữu. Có nghĩa là, một doanh nghiệp nắm giữ càng nhiều tiền thì doanh nghiệp đó có khả năng thanh khoản càng tốt. Tuy nhiên, khả năng thanh khoản của ngân hàng lại có phần khác biệt hoàn toàn so với doanh nghiệp nói chung và nó tổn tại giống như một phạm trù riêng, độc lập.
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế BIS (2008) định nghĩa tính “thanh khoản ngân hàng là khả năng của ngân hàng tài trợ cho việc gia tăng tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ khi đến hạn mà không gây ra bất cứ ton thất không thé chấp nhận được ”. Đồng tình với quan điểm đó, Greuning & Bratanovic (2004) định nghĩa “Khả năng thanh khoản của một ngân hàng thể hiện thông qua việc ngân hàng đó có thể tự mình tài trợ hiệu quả cho các giao dịch”. Chứng tỏ, nêu một ngân hàng mat đi khả năng tự tài trợ cho các giao dịch cũng như các hoạt động khác của ngân hàng là khi rủi ro thanh khoản xảy ra. Trong khi đó, Bhunia (2010) đề cập đến thanh khoản là khả năng của một ngân hang dé đáp ứng các nghĩa vụ ngắn han của mình.
Thanh khoản của ngân hàng chính là “mdu”, cho phép ngân hàng có thé tồn tại và duy trì các hoạt động của mình. Hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thường liên quan đến việc cho vay thông thường, thanh toán các khoản tiền gửi, các giao dịch của khách hàng khi đến han, cũng như đáp ứng chức năng chung của quản tri. Dé duy trì các hoạt động nay, doi hỏi ngân hàng phải duy trì một mức độ thanh khoản an toàn. Từ những khái niệm trên, có thể thấy, dưới mỗi giác độ khác nhau, thanh khoản sẽ được định nghĩa khác nhau, cụ thé: Xét trong ngắn hạn, thanh khoản được hiểu là khả năng mà ngân hàng đảm bảo các nghĩa vụ chỉ trả được thanh toán ngay lập tức tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ.
Con trong đài hạn, thanh khoản lại được hiểu là khả năng ngân hang đảm bảo các nghĩa vụ thanh toán dài han và hỗ trợ việc tăng tài sản bang cách duy trì nguồn vốn vốn dai hạn 6n định với lãi suất hợp lý. Nói đơn giản “Thanh khoản là khả năng ngân hàng thực hiện tat cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn mức tối đa và bằng ẩơn vị tiền tệ được quy định” tác giả Duttweiler (2011) đã đặc biệt nhấn mạnh đặc điểm của thanh khoản ngân hàng. Ngoài ra, ông cũng cho biết thêm, có thể căn cứ vào nguồn gốc hình thanh thanh khoản dé chia nó thành hai nhóm chính, bao gồm: Thanh khoản tự nhiên và Thanh khoản nhân tạo. Nhóm thanh khoản tự nhiên được hình thành do sự hoạt động của các tài sản vốn có của ngân hàng trong kỳ hạn.
Trong khi đó, thanh khoản nhân tạo được hình thành dựa trên sự hỗ trợ của con người, thường là các giao dịch mua bán tài sản trước ngày đáo hạn. Rủi ro thanh khoản Từ định nghĩa về thanh khoản cúa ngân hàng, có thể thấy rửi ro thanh khoản cũng được phát biểu dưới nhiều góc nhìn khác nhau. Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (1997), “Rui ro thanh khoản phát sinh từ việc ngân hàng không có khả năng đáp ưng việc giảm nợ phải trả hoặc tài trợ cho việc tăng tài sản ”. Sau cuộc suy thoái toàn cầu năm 2007 — 2008, Basel (2008) đã có những phát biểu bổ sung về rủi ro thanh khoản: “Rui ro thanh khoản là rủi ro của một định chế tài chính xảy ra khi không có khả năng tim kiếm đủ các nguôn lực kinh tế dé đảm bảo thanh toán các cam kết nợ khi đến hạn mà không dé lại bắt cứ ton thất không thể chấp nhận nào ”.
Rủi ro này có thê ảnh hưởng đến cả vốn và thu nhập của ngân hàng. Ví dụ, trong trường hợp ngân hàng xảy ra thâm hụt thanh khoản (cung thanh khoản không đủ dé đáp ứng nhu cau thanh khoản), khi đó, ngân hàng sẽ chọn cách huy động bổ sung nguồn vốn bang cách đi vay với lãi suất cao hoặc bán lỗ tài sản. Đặc biệt nước ta, thị trường tiền tệ còn yếu kém, việc trạng thái rủi ro thanh khoản ở mức báo động, buộc các NHTM tìm kiếm các giải pháp dé củng cé lại khả năng thanh khoản của mình. Thông thường, giải pháp được các ngân hàng lựa chọn sẽ là đây mạnh di vay và chấp nhận vay với chi phí cao.
Theo Hiệp hội Hợp tác Sinh khối bền vững - SBP: “Rui ro thanh khoản là khả năng xảy ra ton that đối với một tổ chức, phát sinh từ việc tổ chức đó không có khả năng đáp ứng nghĩa vụ cua mình hoặc tài trợ cho việc tang tai sản khi chúng đến hạn mà không phát sinh chi phí hoặc ton thất”. Hay đơn giản hơn, rủi ro thanh khoản có thé được hiểu là “rửi ro không thể thanh lý một tài sản khi can thiết phải đáp ứng nghĩa vụ kip thời với mức giá hop lý” (Muranaga & Ohsawa, 2002). Cụ thể, có hai từ khóa có thể định nghĩa rõ ràng các khía cạnh của rủi ro thanh khoản được trích dẫn trong định nghĩa này: (1) Thanh lý một tài sản khi cần thiết (2) Với mức giá hợp lý Có nghĩa là, các ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu họ không thê thanh lý tài sản của minh dé kịp thời chi trả nghĩa vụ với một mức giá hop lý. Tuy nhiên, khi thanh lý gấp bất kỳ tài sản nào, ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn trong việc làm giá sao cho hợp lý, do điều kiện bán hàng không thuận lợi, điều này dẫn đến tốn thất về thu nhập đáng kể.
Decker (2000) chỉ ra rằng, thuật ngữ rủi ro thanh khoản được chia làm hai loại rủi ro: Rui ro thanh khoản nguồn vốn va Rui ro thanh khoản thị trường. RỦI ro thanh khoản nguồn vốn là rủi ro mà ngân hàng sẽ không thé đáp ứng hiệu quả các nhu cầu về dòng tiền và tài sản thế chấp dự kiến cũng như ngoài dự kiến trong hiện tại và tương lai mà không gây tốn thất đến hoạt động hằng ngày hoặc tình hình tài chính của công ty. Còn rủi ro thanh khoản thị trường là rủi ro mà một ngân hàng không thê dễ dàng bù dap hoặc loại bỏ một vi trí theo giá thi trường do độ sâu cua thị trường không đủ hoặc sự gián đoạn thì trường. Tén tai sự tuong tac manh mé giữa rủi ro thanh khoản ngu6n vốn và rủi ro thanh khoản thị trường, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng cho thấy rang sự suy giảm của thanh khoản nguồn vốn có thé dẫn đến việc thanh lý tài sản và có thể làm giảm giá tài sản trên thị trường.
Ngược lại, thanh khoản thị trường thấp hơn dẫn đến tỷ suất lợi nhuận cao hơn có thê là tác nhân gây ra cú sôc đôi thanh khoản nguôn vôn Một nhấn mạnh thực tế rằng, rủi ro thanh khoản không phải rủi ro biệt lập, mà là rủi ro hệ quả (Vodová, 2011). Với những đặc điểm chủ quan của riêng nó, có thé bị kích hoạt hoặc làm tram trọng thêm bởi các rủi ro tài chính và hoạt động khác trong hoạt động kinh doanh ngân hàng (Hình 1.1) Rui ro tín dung Rui ro thanh khoản Rui ro hoạt động Rủi ro uy tín Rui ro trong ngày Hình 1.1: Mới quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và các loại rủi ro khác 1. Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản Các nhà nghiên cứu trước đây đều thống nhất rủi ro thanh khoản bắt ngu6n từ hoạt động cân đối kế toán, cụ thể là việc cân đối giữa tài sản nợ và tài sản có, hoặc do sự giám sát không chặt chẽ các hoạt động ngoài bảng cân đối. Ngoài ra, rủi ro thanh khoản có thé phát sinh do sự cố hoặc do sự chậm trễ trong dòng tiền từ người đi vay hoặc một dự án kết thúc trước dự kiến (Diamond & Rajan, 2005) Theo Goodhart (2008), có hai nguyên nhân cơ bản của rủi ro thanh khoản bao gôm: Thứ nhất, sự chuyên d6i (giữa thời gian đáo hạn của các khoản nợ và tài sản của ngân hàng), nguyên nhân này có thé bắt nguồn từ việc ngân hàng sử dụng các nguồn vốn huy động ngắn han bao gồm tiền gửi của khác hàng cá nhân và các chủ thé kinh tế khác dé đầu tư 6 ạt vào tài sản dài hạn.
Trong khi đó, lợi nhuận từ việc đầu tư tài sản nhỏ hơn, và thường có độ trễ hơn so với kỳ hạn của các khoản nợ.