đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, đóng góp của đề tài, tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu, kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu Cơ sở lý thuyết, chương này bao gồm các nội dung chính như nền tảng cơ sở lý thuyết về rủi ro, rủi ro phá sản ngân hàng và mô hình chỉ số Z-score. Chương này cũng giới thiệu sơ lược một số nghiên cứu trước đây trên thế giới và trong nước về rủi ro ngân hàng, đồng thời nhận xét và các định khoảng trống nghiên cứu Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương này bao gồm các nội dung chính như trình bày về mô hình và giả thuyết nghiên cứu cùng với phương pháp đo lương biến. Trình bày chi tiết quy trình và phương pháp nghiên cứu, mô tả mẫu nghiên cứu cùng với phương pháp tính toán và xử lý số liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Nội dung chủ yếu là trình bày kết quả mô hình: thống kê mô tảmẫu nghiên cứu,phân tích tương quan mô hình nghiên cứu,kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi, kiểm định hiện tượngtự tương quan. Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, xác định kết quả cuối cùng của mô hình Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 5 Dựa trên kết quả của mô hình nghiên cứu, quan điểm của tác giả, tác giả đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm phát hiện sớm và nâng cao khả năng quản trị rủi ro phá sản ngân hàng. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm về rủi ro Rủi ro là một khái niệm phổ biến nhưng lại chưa có một khái niệm thống nhất. Tùy vào những trường phái khác nhau thì khái niệm về rủi ro được định nghĩa khác nhau, tuy nhiên có thể tóm lược các nội dung trong khái niệm của rủi ro như sau: Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn (Nguyễn Minh Kiều, 2012). Tuy nhiên, không phải bất cứ sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro, những tình trạng bất ổn, sự không chắc chắn mà không thể liệu trước khả năng có thể xảy ra, xác suất có thể xảy ra thì được xem là bất trắc chứ không phải là rủi ro. Bất trắc chỉ trở thành rủi ro khi có thể đo lường được bằng xác suất, hay nói cách khác rủi ro có thể được xem một tập hợp con của bất trắc.
Rủi ro đối với ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định (Phan Thị Cúc, 2009) hay rủi ro được định nghĩa rộng là những biến cố có thể dẫn tới thua lỗ hoặc thiệt hại về lợi nhuận (Bessis, 2011) Rủi ro thường đi đôi với lợi ích, rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng cao, do đó các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận đều ẩn chứa nhiều rủi ro. Tùy theo khẩu vị rủi ro của từng nhà quản trị mà việc đánh giá cơ hội kinh doanh dự trên mức độ rủi ro có thể chấp nhận có đem lại lợi ích như kỳ vọng hay không. Ngành Ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật đó, rủi ro của NHTM rất đa dạng, theo Rose (1999) tại NHTM có 4 loại rủi ro bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và rủi ro thanh khoản. Hơn nữa, với bản chất kinh doanh về “tiền” rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM luôn song hành, gắn với mọi nghiệp vụ, luôn có thể xảy ra.
Hoạt động kinh doanh luôn đi kèm với rủi ro nhưng nếu rủi ro xảy ra với tần suất cao, gây thiệt hại lớn trên quy mô rộng thì rủi ro có thể tạo thành chuỗi dẫn đến hiệu ứng domino xảy ra nhanh chóng trên các thị 7 trường tín dụng, chứng khoán, bất động sản, thương mại. và ngân hàng/hệ thống ngân hàng bị phá sản kéo theo sự sụp đổ của thị trường tài chính, phá vỡ sự ổn định của hệ thống. Do mức độ ảnh hưởng có thể nói vô cùng lớn, việc phá sản NHTM không xảy ra với tần suất cao như các loại hình doanh nghiệp sản xuất, thương mại khác, nhưng không đồng nghĩa với việc không xảy ra. Từ đó, tác giả thực hiện bài nghiên cứu này chú trọng xem xét đến rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại.
Khái niệm phá sản ngân hàng thương mại Khái niệm “phá sản” thường được hiểu : (1) là tình trạng một tổ chức kinh doanh bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan Nhà nước (thông thường là tòa án) ra quyết định tuyên bố phá sản, hoặc (2) là thủ tục pháp lý liên quan đến một tổ chức kinh doanh để giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức đó. Tuy nhiên trong nghiên cứu, việc phá sản doanh nghiệp không chỉ là các quyết định của Tòa án hay việc doanh nghiệp tự nộp đơn phá sản mà tùy vào thời điểm, thị trường được nghiên cứu mà các tác giả có quan điểm khác nhau về phá sản và nguy cơ phá sản (Alman, 1968). Hefferman (2005) cho rằng khả năng phá sản của các doanh nghiệp xảy ra khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khi nợ phải trả vượt quá tài sản hoặc tài sản ròng âm Tuy nhiên quan điểm về phá sản doanh nghiệp cần được xem xét khi áp dụng vào NHTM do những đặc thù khác biệt trong kinh doanh. NHTM hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, đây là lĩnh vực nhạy cảm và tác động trực tiếp đến mọi hoạt động trong nền kinh tế.
Hoạt động kinh doanh của các NHTM có thể xuất hiện nhiều rủi ro và chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau, khi một ngân hàng mất khả năng thanh toán sẽ tạo ra tác động lan truyền đến các NHTM khác. Chính vì thế Chính phủ và NHNN luôn kiểm soát chặt chẽ hoạt động của ngân hàng nhằm ổn định hệ thống tiền tệ và hạn chế nguy cơ khủng hoảng xảy ra ảnh hưởng đến toàn nền kinh tế. Trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, các đơn vị quản lý cũng sẽ thực hiện rất nhiều biện pháp khác nhau trước khi để phá sản thực sự diễn ra. Martin (1977) cho rằng ngân hàng sẽ phá sản nếu giá trị ròng bị âm hoặc nếu tiếp tục hoạt động sẽ dẫn tới thiệt hại ngay lập tức dẫn đến giá trị ròng âm.
Tuy 8 nhiên, hầu hết các tình huống thất bại của ngân hàng được giải quyết bằng những cách không dẫn đến phá sản theo nghĩa hợp pháp. Giám sát sáp nhập bắt buộc, trong đó ngân hàng yếu hơn được sáp nhập vào một ngân hàng mạnh hơn theo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước, được áp dụng thường xuyên hơn là để ngân hàng phá sản thực tế. Kaufman và Cato (1996) đã định nghĩa một ngân hàng không thành công về mặt kinh tế khi giá trị thị trường của tài sản giảm xuống dưới giá trị thị trường của nợ phải trả, do đó giá trị thị trường của vốn (giá trị ròng) trở nên âm. Vào thời điểm đó, ngân hàng không thể mong đợi trả hết tiền cho người gửi tiền đầy đủ và đúng thời hạn.
Logan (2001) và Hefferman (2005) đều đưa ra khái niệm về phá sản NHTM là khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, bị sáp nhập hoặc bị mua lại bởi một ngân hàng lớn khỏe mạnh, được sự kiểm soát của chính phủ hoặc ngân hàng đó phải nhận sự cứu trợ từ NHTW. Khái niệm này về bản chất không phải là việc ngân hàng nộp đơn phá sản, mà là ngay khi ngân hàng không thanh toán được các khoản nợ, và bị các cơ quan quản lý áp dụng các biện pháp đặc biệt để kiểm soát rủi ro lan rộng. Có thể tóm lại, phá sản NHTM xảy ra theo nghĩa hẹp là khi ngân hàng không thể thanh toán được các khoản nợ bằng nguồn vốn tự có và nộp đơn phá sản. Theo nghĩa rộng, phá sản ngân hàng còn được tính trong các trường hợp bị mua lại bởi các ngân hàng mạnh, bị cơ quan quản lý áp dụng các biện pháp đặc biệt như chỉ định sáp nhập hoặc quốc hữu hóa.
Rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại Thuật ngữ rủi ro hay nguy cơ phá sản ngân hàng (Bank failure risk) được sử dụng trong nghiên cứu nước ngoài với hàm ý tổng hợp các rủi ro ngân hàng gặp phải dẫn đến phải đối mặt với sự phá sản. Shaffer (2012) trong nghiên cứu về rủi ro phá sản NHTM tại Úc đã nêu ra rủi ro phá sản hay nguy cơ thất bại là tập hợp của các rủi ro ngân hàng gặp phải, tăng giảm rủi ro này bằng cách điều chỉnh các yếu tố rủi ro trong ngân hàng. Ví dụ như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản cao hơn thì rủi ro phá sản cao hơn. 9 Nguyễn Thanh Dương (2013) cho rằng việc giảm thu nhập dẫn tới làm thâm hụt vốn sẽ khiến ngân hàng lâm vào trạng thái khánh kiệt và đứng trước nguy cơ phá sản.
Phạm Tiến Đạt (2013) khi đánh giá rủi ro trong NHTM nhằm phục vụ cho hoạt động kiểm toán BCTC, đã cho rằng Rủi ro vỡ nợ là rủi ro khi ngân hàng không đủ VCSH để bù đắp cho sự sụt giảm đột ngột trong giá trị tài sản do hậu quả của các loại rủi ro khác, thiếu kinh nghiệm quản lý vĩ mô, do sự suy thoái của nền kinh tế, tỷ trọng huy động tiền gửi nhỏ, chủ yếu dựa vào các khoản vay, sự gia tăng các vụ vỡ nợ trong danh mục cho vay của các khách hàng. Có thể thấy định nghĩa này đã chỉ ra dấu hiệu cụ thể để xác định phá sản ngân hàng, đó là giá trị tài sản suy giảm dẫn đến VCSH không đủ bù đắp. Nguyên nhân do: (i) hậu quả của các loại rủi ro khác trong ngân hàng, như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất,… hoặc (ii) do quản lý yếu kém, hoặc (iii) suy thoái kinh tế. Tóm lại, rủi ro phá sản NHTM là rủi ro xảy ra khi NHTM đứng trước nguy cơ nộp đơn phá sản, hoặc bị kiểm soát bởi cơ quan có thẩm quyền, hoặc bị bắt buộc sáp nhập vào ngân hàng khác.