Chương 1: Nêu bối cảnh nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và nội dung nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Nêu khái quát những lý thuyết được sử dụng trong đề tài. Chương 3: Phân tích cơ cấu thu thuế của một số nước trong khu vực trong quá trình hội nhập. Chương 4: Phân tích cơ cấu thu thuế của Việt Nam trong quá trình hội nhập, và so sánh với các nước trong khu vực.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về thuế Có nhiều khái niệm về thuế, tuy nhiên cho đến nay các khái niệm đều thừa nhận: thuế là khoản nộp của các tổ chức và cá nhân cho nhà nước theo luật định. Một số loại thuế phổ biến gồm: Thuế thu nhập cá nhân; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế giá trị gia tăng, Thuế doanh thu; Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế tội lỗi (sin tax); Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Thuế tài sản, Thuế nhà đất, Thuế chuyển quyền sử dụng đất, Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế môi trường và; Thuế môn bài.3 Các đặc điểm cơ bản của Thuế gồm: i) Đóng góp mang tính bắt buộc cho chính phủ mà không gắn với một lợi ích cụ thể; ii) Chuyển quyền kiểm soát các nguồn lực KT từ người nộp thuế sang nhà nước; iii) Nguồn thu chung và phân bổ thông qua chính sách chi tiêu của chính phủ; và iv) Nộp bằng tiền hoặc bằng hiện vật.
Thuế có bốn chức năng cơ bản. Thứ nhất, thuế tạo nguồn thu cho NSNN. Ngay từ khi nhà nước ra đời đã yêu cầu cần có một quỹ tiền tệ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình đó chính là NSNN. Đóng góp chính vào NSNN là nguồn thu từ thuế.
Qua các thời kỳ lịch sử với sự phát triển ngày càng cao của xã hội, chức năng và nhiệm vụ của nhà nước có sự điều chỉnh nhưng thuế vẫn luôn phát huy vai trò là tạo nguồn thu chủ yếu cho NSNN. Thứ hai, thuế đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Nguồn thu thuế được đưa vào NSNN và được cân đối nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước trên lĩnh vực kinh tế, xã hội như y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng, xây dựng cơ sở hạ tầng…Suy cho cùng những khoản chi tiêu từ thuế của nhà nước là để phục vụ cho lợi ích của cộng đồng xã hội. Thứ ba, thuế phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập và điều tiết các quan hệ KT.
Vai trò điều chỉnh TN được thực hiện thông qua cả thuế trực thu như thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và thuế gián thu như thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế XNK. Với cách đánh thuế vào người tiêu dùng thông qua giá cả hàng 3 Đỗ Thiên Anh Tuấn (2015). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- hóa (HH) không chỉ điều chỉnh TN của người tiêu dùng mà còn góp phần làm giảm cầu về các HH, dịch vụ (DV) không có lợi cho người tiêu dùng và bất lợi cho nền KT như rượu, bia, thuốc lá, hàng NK không cần thiết… Việc điều chỉnh hành vi tiêu dùng chính là một hình thức điều tiết các quan hệ KT. Thứ tư, thuế là công cụ quản lý vĩ mô, công cụ của chính sách tài khóa.
Chi tiêu công và chính sách thuế là hai công cụ chính của chính sách tài khóa. Thông qua hệ thống thuế với các quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất, ưu đãi thuế… trong luật thuế có vai trò kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng KT, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư.4 Xu hướng nguồn thu thuế nói chung trên thế giới từ những năm 1990 đến 2000. Nguồn thu thuế so với GDP chiếm tỷ trọng cao từ 26%-27% ở các nước có TN cao, tỷ trọng đóng góp này lần lượt giảm dần ở các nhóm nước có TN khác nhau, cụ thể nhóm nước có TN TB cao khoảng 21%, nhóm nước có TN TB thấp khoảng 16%, nhóm nước có TN thấp khoảng 14% (được tóm tắt trong bảng sau).1 - Xu hướng nguồn thu thuế nói chung trên thế giới từ đầu những năm 1990 đến 2000 Nhóm nước Nguồn thu thuế so với GDP Nhóm nước có TN cao 26%-27% Nhóm nước có TN TB cao Khoảng 21% Nhóm nước có TN TB thấp Khoảng 16% Nhóm nước có TN thấp Khoảng 14% Nguồn: Đỗ Thiên Anh Tuấn (2015). Xét về cơ cấu thu thuế so với GDP, ở nhóm nước có TN thấp chiếm tỷ trọng lớn là các sắc thuế gián thu đánh trên HH, DV trong nước; thuế đánh trên TN còn thấp, nguồn thu thuế tài sản và bảo hiểm xã hội chiểm tỷ trọng rất nhỏ so với GDP.
Đối với nhóm nước có TN TB thấp và TB cao, tỷ trọng đóng góp của thuế gián thu giảm dần, thuế đánh trên TN tăng dần tỷ trọng, nguồn thu từ bảo hiểm xã hội chiếm tỷ trọng đáng kể ở nhóm nước có TN TB cao nhưng còn thấp ở nước có TN TB thấp. Với nhóm nước có TN cao, đáng chú ý là tỷ trọng 4 Stiglitz (2000) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- đóng góp của bảo hiểm xã hội cao gần bằng với thuế đánh vào TN. Tuy nhiên, thuế đánh trên HH, DV trong nước vẫn là nguồn thu chính và cao hơn tỷ trọng của thuế TN. Xu hướng thay đổi của một số sắc thuế cụ thể, đó là: sự phổ biến áp dụng thuế GTGT, sự dịch chuyển khỏi thuế XNK và sự giảm về thuế TNDN.
Các chỉ số được dùng để phản ánh số thu các sắc thuế vào tổng thu thuế, vào Tổng sản phẩm quốc nội Tỷ trọng đóng góp thuế TNDN vào tổng DT thuế: Công thức: ்ổ ் ௧௨ế ்ேே Tỷ trọng đóng góp thuế TNDN vào tổng DT thuế = ்ổ ் ௧௨ế Tỷ trọng đóng góp thuế TNDN vào tổng DT thuế phản ánh số thu thuế TNDN chiếm tỷ lệ bao nhiêu % trong tổng DT thuế. Tỷ trọng đóng góp thuế TNDN qua các năm tăng hay giảm nó sẽ phụ thuộc vào tốc độ tăng của tổng DT thuế TNDN và tổng DT thuế (Công thức này được dùng tương tự cho các sắc thuế khác). Gánh nặng thuế: Theo OECD để làm một so sánh quốc tế tổ chức này đã dùng khái niệm gánh nặng thuế, gánh nặng thuế này bằng DT thuế chia cho GDP. Gánh nặng thuế ảnh hưởng đến các quyết định về sản xuất, tiêu dùng và tiết kiệm.
Về mặt quốc tế, một phần sự hấp dẫn của một nước đối với các nhà đầu tư tiềm năng là gánh nặng thuế tương đối của nước đó. Về mặt nội địa, tầm quan trọng tương đối của thuế TN và tiêu dùng, cũng như đóng góp an sinh xã hội, ảnh hưởng đến đầu tư, thị trường lao động và các quyết định khác của các DN và cá nhân.6 Đối với thuế TNDN thì gánh nặng thuế TNDN được tính bằng công thức sau: ்ổ ் ௧௨ế ்ேே Gánh nặng thuế TNDN = ீ Dùng chỉ số gánh nặng thuế TNDN phản ánh gánh nặng thuế TNDN giữa các quốc gia là cao hay thấp. Từ đó các nhà đầu tư làm căn cứ để đưa ra các quyết định đầu tư. 5 Đỗ THiên Anh Tuấn (2015).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ảnh hưởng của cam kết thuế trong hội nhập kinh tế quốc tế đối với nguồn thu thuế thu nhập doanh nghiệp và xuất nhập khẩu Trong quá trình hội nhập KT quốc tế xu hướng cam kết cắt giảm thuế và các ràng buộc thuế sẽ tác động đến nguồn thu ngân sách của Chính phủ. Liệu các cam kết cắt giảm thuế có làm giảm thật sự TN của chính phủ hay không và bằng cách nào để Chính phủ ứng phó với trường hợp này. Vì thế đòi hỏi phải đánh giá được toàn bộ mức ảnh hưởng từ: cắt giảm thuế suất, thay đổi đối tượng đánh thuế và chế độ ưu đãi thuế đến nguồn thu của Chính phủ.7 Trước hết, chúng ta nói về mối quan hệ giữa thuế suất và số thu từ thuế.
Đối với thuế XNK, khi xu hướng cắt giảm thuế suất đối với HH XNK sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số thu từ HH XNK và làm thay đổi cơ sở tính thuế (thuế GTGT, thuế TTĐB) đối với HH XNK. Thực tế, việc thực hiện cam kết về cắt giảm thuế suất thuế XNK có vẻ như chắc chắn sẽ làm giảm nguồn thu từ thuế XNK. Nhưng phần giảm thuế XNK này có thể bù lại bởi việc khuyến khích XK hay tăng kim ngạch XK, có thể tăng thu từ hoạt động XNK HH. Bên cạnh đó, cắt giảm thuế suất thuế XNK sẽ làm giảm giá nguyên vật liệu NK và dẫn tới giảm chi phí đầu vào sản xuất trong nước, qua đó, sức cạnh tranh của HH nội địa tăng lên cũng có thể góp phần tăng thu ngân sách qua giảm tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại.
Đối với thuế TNDN, trước tiên ta nói về việc cắt giảm thuế suất sẽ giảm trực tiếp số thu thuế tính trên đối tượng đánh thuế nhưng đây chỉ là ảnh hưởng trong ngắn hạn bởi vì khi cắt giảm thuế suất sẽ giúp cho DN có thể tiết kiệm được nguồn vốn để tái đầu tư trong tương lai, giúp các DN nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đây là động lực lâu dài, có tính bền vững cho sự phát triển KT cũng có nghĩa là gia tăng ngân sách. Thứ hai, ta xét về mối quan hệ giữa đối tượng chịu thuế với số thu từ thuế. Đối với thuế XNK, quá trình hội nhập KT quốc tế đi với nó là mở cửa thị trường HH, xuất hiện của nhiều loại HH, tăng việc mua bán HH trong và ngoài nước.
Điều này làm gia tăng đối tượng chịu thuế đối với thuế XNK, cùng với sự điều chỉnh cơ cấu ngành hàng, gia tăng kim ngạch XK sẽ khiến số thuế từ hoạt động XK tăng lên. Đối với thuế TNDN, hoạt động kinh doanh ngày càng sôi động, các quan hệ KT phát sinh ngày càng đa dạng và phức tạp, không chỉ dừng lại ở các giao 7 National Commission on Fiscal Responsibility and Reform (2010). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -10- dịch mua bán thông thường mà xuất hiện nhiều hơn các hình thức kinh doanh mới như kinh doanh bản quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, bí quyết, thương mại điện tử…Điều này phản ánh xu hướng gia tăng nhanh đối tượng nộp thuế từ các quốc gia trên thế giới. Do đó, xét về sự thay đổi của đối tượng chịu thuế có thể sẽ là yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách.
Cuối cùng, ta xem xét về quan hệ giữa ưu đãi thuế và số thu từ thuế.