Chương I Quy định chung Về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD – ban hành theo QĐ 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN) Chỉ tiêu đánh giá kết quả tín dụng – Dư nợ/Vốn huy động Dư nợ Tỷ lệ dư nợ trên tổng vốn huy động (%) = x 100 Tổng vốn huy động Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu đồng vốn huy động tham gia vào dư nợ. Nó còn cho biết khả năng huy động vốn tại địa phương của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng lớn thì vốn huy động tham gia vào dư nợ ít, khả năng huy động vốn chưa cao. – Dư nợ/Tổng nguồn vốn Dư nợ Tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn (%) = x 100 Tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này dùng để đánh giá mức độ tập trung vốn tín dụng của ngân hàng.
Nếu chỉ tiêu này càng cao thì mức độ hoạt động của NH càng ổn định và có hiệu quả; ngược lại ngân hàng đang gặp khó khăn nhất là trong khâu tìm kiếm khách hàng vay. – Vòng quay tín dụng Doanh số thu nợ Vòng quay vốn tín dụng = Dư nợ bình quân -9- Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng hay chỉ tiêu Doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân – đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, thời gian thu hồi nợ nhanh hay chậm. – Hệ số thu nợ Doanh số thu nợ Hệ số thu nợ = Doanh số cho vay Chỉ số này phản ánh kết quả thu hồi nợ của NH cũng như khả năng trả nợ vay của khách hàng. Hệ số thu nợ cho biết số tiền ngân hàng sẽ thu được trong thời kỳ nhất định từ một đồng doanh số cho vay.
– Nợ xấu/Dư nợ Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu (%) = x 100 Tổng dư nợ Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả tín dụng và chất lượng tín dụng. Nếu tỷ lệ này thấp thì chất lượng tín dụng cao và ngược lại. Hoạt động dịch vụ. Đây là nghiệp vụ kinh doanh mà ngân hàng thực hiện theo sự ủy nhiệm của khách hàng để được hưởng các khoản phí và hoa hồng.
Thu từ hoạt động dịch vụ chiếm một vị trí quan trọng trong tổng thu nhập của ngân hàng, đây là khoản mục thu nhập ít rủi ro nhất. Vì vậy, các ngân hàng ngày nay có xu hướng nâng dần tỷ trọng thu dịch vụ trong tổng thu nhập bằng việc ứng dụng các tiến bộ của công nghệ mới để phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại như dịch vụ ngân hàng điện tử (e- banking), dịch vụ thẻ ATM bên cạnh cung cấp các dịch vụ truyền thống: dịch vụ thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, cho thuê két sắt, tư vấn, bảo lãnh, các dịch vụ khác. - Dịch vụ thanh toán: là việc ngân hàng cung ứng và thực hiện các dịch vụ như: thu hộ, chi hộ, thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế. Các hình thức thanh toán quốc tế thường được ngân hàng sử dụng là: thư tín dụng (Letter of Credit), chuyển tiền (Telegrafic transfer), nhờ thu (Collection).
Dịch vụ thanh toán là dịch vụ truyền thống của ngân hàng. Kinh tế, xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng ngày càng tăng, do đó phí thu được từ hoạt động dịch vụ này ngày càng nhiều. Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, ngày nay, hoạt động thanh toán của ngân hàng ngày càng hiện đại, đa dạng và nhanh chóng. -10- - Kinh doanh ngoại tệ: là việc ngân hàng dùng đồng tiền nước này mua hoặc bán đồng tiền nước khác tại cùng một địa điểm hoặc giữa các địa điểm khác nhau trong cùng một thời gian hoặc tại các thời gian khác nhau nhằm mang lại thu nhập dưới hình thức chênh lệch giữa giá mua vào và giá bán ra.
- Bảo lãnh: là việc cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay. Các loại bảo lãnh thường được các ngân hàng thực hiện đó là: bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh L/C (thư tín dụng - Credit Card). Thông qua các hoạt động này, ngân hàng thu được phí dịch vụ bảo lãnh.
- Các dịch vụ khác như: dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ ngân quỹ, các dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê két sắt và các dịch vụ khác như: dịch vụ thẻ, internet banking, Homebanking. Một số phƣơng pháp luận về phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Kết quả theo ý nghĩa chung nhất được hiểu là các lợi ích KT, XH đạt được từ quá trình HĐKD mang lại. Kết quả kinh doanh bao gồm hai mặt là kết quả KT (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của DN hoặc của XH để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và kết quả XH (phản ánh những lợi ích về mặt XH đạt được từ quá trình HĐKD), trong đó kết quả KT có ý nghĩa quyết định.
Phân tích đánh giá kết quả HĐKD là quá trình nghiên cứu, để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng, nhằm làm rõ chất lượng HĐKD và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao kết quả HĐKD ở ngân hàng.[3] Trong luận văn này kết quả kinh doanh được giới hạn kết quả kinh tế từ phía hoạt động kinh doanh của ngân hàng. – Kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh thông qua những chỉ tiêu KT mà mình đã đề ra. – Phát hiện khả năng tiềm tàng của ngân hàng. – Giúp NH nhìn nhận đúng khả năng, sức mạnh và thấy hạn chế của mình.
– Là công cụ quan trọng cung cấp thông tin để điều hành hoạt động kinh doanh cho các nhà Quản trị ở ngân hàng một cách kết quả. – Phòng ngừa rủi ro. – Phân tích hữu dụng cho cả trong và ngoài ngân hàng. – Đánh giá quá trình hướng đến kết quả kinh doanh (KQKD), KQKD có thể là KQKD đã đạt được hoặc kết quả của các mục tiêu trong tương lai cần phải đạt được với sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng và được biểu hiện qua các chỉ tiêu KT.
– Phân tích HĐKD không chỉ dừng lại ở đánh giá biến động của kết quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu KT mà còn đi sâu xem xét các nhân tố ảnh hưởng tác động đến sự biến động của chỉ tiêu. – Kiểm tra, đánh giá một cách chính xác, toàn diện và khách quan tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh đã xây dựng của ngân hàng. – Xác định các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và tìm nguyên nhân gây nên các mức độ ảnh hưởng đó. – Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác khả năng tiềm tàng, khắc phục những tồn tại yếu kém của NH, góp phần mang lại kết quả KT cho địa phương.
– Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào mục tiêu đã định 1. Kết quả kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại. – Thu từ hoạt động tín dụng: Thu lãi cho vay, lãi tiền gửi (gửi vốn TW). – Thu từ dịch vụ thanh toán và ngân quỹ.
Phân tích tỷ trọng từng khoản mục này giúp xác định được cơ cấu thu nhập, để từ đó có những biện pháp phù hợp để tăng lợi nhuận của ngân hàng; đồng thời có thể kiểm soát được rủi ro trong kinh doanh. Chi phí nói chung là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh với mong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định. Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất, thương mại (TM), dịch vụ (DV) nhằm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là doanh thu (DT) và lợi nhuận (LN). – Chi trả lãi tiền vay, tiền gửi.
– Chi về dịch vụ. – Chi về tài sản, Chi quản lý, Chi khác. Là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá kết quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung; nó là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập thu được và các khoản chi phí đã bỏ ra để phục vụ cho việc thực hiện hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh.
Chỉ tiêu lợi nhuận. – Lợi nhuận/Tổng tài sản (ROA) Chỉ số này cho thấy khả năng bao quát của NH trong việc tạo ra thu nhập (TN) từ tài sản hay nói cách khác, ROA giúp cho nhà phân tích xác định kết quả kinh doanh của một đồng tài sản. ROA lớn chứng tỏ kết quả kinh doanh của NH tốt, NH có cơ cấu tài sản hợp lý, NH có sự biến động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền KT. Nếu ROA quá lớn, nhà phân tích sẽ lo lắng vì rủi ro luôn song hành với lợi nhuận.
Vì vậy việc so sánh ROA giữa các kỳ hạch toán có thể rút ra nguyên nhân thành công hoặc thất bại của ngân hàng. Ta biết: ROA được tính theo công thức sau ROA = Tỷ suất lợi nhuận * Hệ số sử dụng tài sản Thu nhập Chi phí Doanh thu = – x Doanh thu Doanh thu Tổng tài sản Lợi nhuận ròng Doanh thu = x Doanh thu Tổng tài sản -13- Gọi Rn ROA năm thứ n (n = 2017, 2018, 2019) an Tỷ suất lợi nhuận bn Hệ số sử dụng tài sản – Mức lợi nhuận biên tế (Tỷ suất Lợi nhuận ròng trên doanh thu) Chỉ số này cho biết kết quả của một đồng thu nhập, đồng thời đánh giá kết quả quản lý thu nhập của NH. Cụ thể, chỉ số này cao chứng tỏ NH đã có những biện pháp tích cực trong việc giảm chi phí và tăng thu nhập của NH. – Mức lãi biên tế [(Thu lãi- Chi lãi)/Tài sản sinh lời] Chỉ tiêu này đo lường khả năng quản lý tài sản trong việc tạo ra lợi nhuận ròng và mức lãi ròng biên tế.