chương 1 của Luật các tổ chức tín dụng 2010 có định nghĩa về Ngân hàng: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Trong các loại hình ngân hàng, NHTM là loại hình kinh doanh điển hình. Hệ thống các NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc luân chuyển vốn với các chủ thể có nhu cầu vốn.
Theo khoản 3, điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa về NHTM: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh tiền tệ, với nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ liên quan đến lĩnh vực tài chính – ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận.2 Các loại hình NHTM Căn cứ vào hình thức hoạt động, NHTM được phân chia thành: NHTM nhà nước: là NHTM do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của nhà nước. NHTM cổ phần: là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó có các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức khác và cá nhân cùng góp vốn. NH liên doanh: là NH được thành lập bằng vốn góp của bên Việt Nam và bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
3 c Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là đơn vị phụ thuộc của NH nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được NH nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: là NH được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài, trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ). Căn cứ vào chiến lược kinh doanh, NHTM gồm 3 loại hình: NH bán buôn: là NH chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng chủ yếu là công ty. NH bán lẻ: là NH chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng chủ yếu là khách hàng cá nhân.
NH vừa bán buôn vừa bán lẻ: là NH giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng là công ty và cá nhân. Hầu hết các NHTM hiện nay đều thực hiện loại hình vừa bán buôn vừa bán lẻ. Căn cứ vào tính chất kinh doanh, NHTM gồm 2 loại hình: NH chuyên doanh: là ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên doanh, chỉ cung cấp một số dịch vụ nhất định. NH tổng hợp: là ngân hàng cung cấp tất cả các dịch vụ ngân hàng.
Căn cứ vào quan hệ tổ chức, NHTM được phân thành: NH hội sở: là nơi tập trung quyền lực cao nhất và cung cấp đầy đủ hơn các hoạt động dịch vụ ngân hàng. NH chi nhánh (cấp 1, cấp 2): cung cấp các hoạt động dịch vụ ngân hàng ít hơn so với Hội sở, thường tập trung vào các hoạt động huy động vốn, thanh toán, cho vay. Phòng giao dịch: thực hiện các hoạt động dịch vụ của ngân hàng như huy động vốn, thanh toán, cho vay.3 Chức năng của NHTM NHTM đóng vai trò không thể thiếu trong sự phát triển của nền kinh tế xã hội là do 3 chức năng của NHTM. NHTM là một trung gian tín dụng: đây được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM.
NHTM là cầu nối giữa những người dư thừa vốn và những người có nhu cầu về vốn. NHTM huy động vốn nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân dưới hình thức 4 c gửi tiết kiệm sau đó cho những người có nhu cầu vay lại. Ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoảng chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. Hoạt động tín dụng của ngân hàng có thể tạo lợi ích cho cả người gửi tiền và người đi vay.
NHTM là một trung gian thanh toán: ở chức năng này, NHTM được xem như là thủ quỹ cho doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. NHTM cung cấp cho khách hàng các phương tiện thanh toán như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, các loại thẻ thanh toán, thẻ tín dụng. Khách hàng có thể lựa chọn cho mình một phương thức thanh toán phù hợp. Qua đó, khách hàng có thể tiết kiệm được thời gian, chi phí, lại đảm bảo việc thanh toán được an toàn và nhanh chóng.
NHTM có chức năng tạo bút tệ, góp phần gia tăng khối tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển của nền kinh tế. Tạo bút tệ là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Hiện nay, NHTM tạo bút tệ thông qua hai cơ chế, một là thông qua các sản phẩm hiện đại của ngân hàng như là thẻ tín dụng, thấu chi, hai là thông qua cơ chế phát hành tiền gửi.4 Các nghiệp vụ của NHTM NHTM là loại hình ngân hàng đa dạng nhất, nhưng dù ở bất cứ loại hình nào thì NHTM cũng có ba nghiệp vụ. Nghiệp vụ Tài sản Nợ: đây là nghiệp vụ tạo nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng, bao gồm nguồn vốn tự có, huy động vốn, vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác, tiếp nhận vốn và các nguồn vốn khác.
Nghiệp vụ Tài sản Có: đây là nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng, bao gồm mua tài sản cố định, thiết lập dự trữ bắt buộc, cấp tín dụng, đầu tư khác. Nghiệp vụ trung gian: NHTM là đơn vị trung gian cung ứng cho khách hàng các dịch vụ lien quan đến lĩnh vực tài chính – ngân hàng như dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ ủy thác, dịch vụ quản lý tài sản, tư vấn tài chính.5 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế Ngân hàng thương mại cung cấp vốn cho nền kinh tế: trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân muốn thực hiện sản xuất kinh doanh nhưng lại không có đủ nguồn vốn để mua các nguyên vật liệu, bất động sản, máy móc thiết bị, vậy họ phải làm sao để có được nguồn vốn? Trong khi đó, một bộ phận dân cư gồm các tổ chức và cá nhân có nguồn vốn nhàn rỗi, lại không có ý định kinh doanh. Ngân hàng đã huy động các nguồn vốn nhàn rỗi đó dưới các hình thức như gửi tiết kiệm có lãi vốn đó để thực hiện cho vay đối với những người đang có nhu cầu vốn. Chính nhờ vào hoạt động tín dụng của ngân hàng đã giúp cho các doanh nghiệp có thể phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động cho nền kinh tế Việt Nam.
Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường: kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển, các doanh nghiệp trong nước có nhiều cơ hội hợp tác phát triển với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, các doanh nghiệp cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, doanh nghiệp phải có một nguồn vốn mạnh để đầu tư. Ngân hàng là nơi có nguồn vốn mạnh, có thể giúp cho doanh nghiệp vay vốn để phát triển việc kinh doanh của mình. Có thể thấy được ngân hàng đóng vai trò không nhỏ trong việc phát triển của các doanh nghiệp ở thị trường kinh tế Việt Nam.
Ngân hàng thương mại là công cụ để Ngân hàng nhà nước điều tiết nền kinh tế: hiện nay, NHTM có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của tất cả các thành phần kinh tế trên cả nước, cho nên NHNN có thể thông qua hoạt động của NHTM để điều tiết nền kinh tế. Thông qua hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông. Thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị trường. Việc điều tiết nền kinh tế thông qua NHTM đạt hiệu quả nên được NHNN thường xuyên sử dụng.2 Hoạt động huy động vốn của NHTM 1.1 Khái niệm về vốn của NHTM Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Thực chất 6 c vốn của Ngân hàng là một bộ phận của thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, người chủ sở hữu của chúng gửi vào Ngân hàng với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu tư. Vốn của NHTM bao gồm vốn tự có, vốn huy động, vốn vay và nguồn vốn khác.1 Nguồn vốn tự có Vốn tự có bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia và một số tài sản nợ khác theo quy định của NHNN. Vốn tự có được hình thành từ nguồn vốn của chủ sở hữu khi ngân hàng mới thành lập và nguồn vốn bổ sung hằng năm từ lợi nhuận kinh doanh, từ vốn góp thêm của chủ sở hữu. Tuy vốn tự có có tỷ trọng nhỏ, nhưng có tính ổn định cao và không ngừng gia tăng nên nó giữ vai trò rất quan trọng.
NHTM thường dùng vốn tự có để đầu tư vào tài sản cố định, cấp tín dụng trung dài hạn và đầu tư vào các lĩnh vực khác.2 Nguồn vốn huy động Vốn huy động là vốn của các chủ thể trong nền kinh tế được ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng kinh doanh trong một thời gian nhất định sau đó sẽ hoàn trả gốc và lãi cho chủ sở hữu. Ngân hàng huy động vốn thông qua nhận tiền gửi, nhận tiết kiệm của khách hàng, phát hành chứng từ có giá. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất nhưng mà không ổn định. Vốn huy động được dùng để thiết lập dự trữ và cấp tín dụng cho nền kinh tế.