CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Quá trình hình thành và phát triển cho vay tiêu dùng Ra đời trước tiên từ thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu, trong vòng chưa đầy 20 năm trở lại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng đã có tốc độ phát triển nhanh chóng. Số liệu thống kê năm 2012 cho thấy tổng cộng đã có hơn 25 nghìn tỷ USD dư nợ cho vay tiêu dùng ở hai khu vực này.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng trong hoạt động cho vay tiêu dùng lại được ghi nhận tại các thị trường mới nổi (bao gồm cả Mỹ La tinh, châu Á - Thái Bình Dương, Đông Âu, Trung Đông và Châu Phi), đã tạo nên những lực đẩy quan trọng đối với thị trường cho vay tiêu dùng toàn cầu trong giai đoạn gần đây. Có thể thấy sự ra đời của hoạt động cho vay tiêu dùng là một kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế. Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển lâu dài của hoạt động tín dụng nói chung, thì cho vay tiêu dùng mới chỉ ở giai đoạn đầu khởi phát. Ngày nay, lĩnh vực cho vay tiêu dùng đang phát triển mạnh mẽ.
Nhiều công ty chuyên môn hóa đã tìm kiếm nhiều dạng dịch vụ khác nhau và hiện đã mở rộng dần ra, phù hợp với việc cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ. Lĩnh vực này cũng không còn chỉ do ngân hàng và công ty tài chính thực hiện nữa mà các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, ngân hàng tiết kiệm bưu điện,… cùng tham gia cung cấp dịch vụ. Tại Việt Nam, hoạt động cho vay tiêu dùng trong thời gian đầu tập trung nhiều vào cho vay trả góp, các sản phẩm cung ứng còn rất đơn điệu. Hiện nay, khi mà một số văn bản pháp luật hướng dẫn đã được ban hành, đặc biệt với sự 10 ra đời Thông tư số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về cho vay tiêu dùng của của công ty tài chính, Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, trong đó có quy định cụ thể về cho vay tiêu dùng thì hoạt động cho vay tiêu dùng ở nước ta lại đang trong xu hướng mở rộng, hoàn thiện hơn.
Hiện đây được xem là thị trường tiềm năng và có nhiều điều kiện phát triển mạnh của các NHTM tại Việt Nam với nhiều sản phẩm cho vay tiêu dùng, từ các khoản vay lớn như mua nhà, mua ô tô cho đến các khoản vay nhỏ như vay mua đồ gia dụng, điện thoại, xe máy, phục vụ các nhu cầu tiêu dùng nhỏ như khám chữa bệnh, du lịch. Thị trường tín dụng tiêu dùng trong nước những năm qua đã chứng kiến sự gia tăng ngày một mạnh mẽ cả về số lượng khách hàng và dư nợ tín dụng. Tính đến cuối năm 2010, cho vay tiêu dùng chỉ chiếm khoảng 2,3% tổng dư nợ tương đương 16. Nhưng đến cuối 2015, con số này đã tăng lên 6,8% tương đương 90.
Hiện, tổng dư nợ cho vay tiêu dùng ở Việt Nam tăng trưởng trung bình ở mức 20%/năm. Tính đến đầu năm 2016, tỷ lệ dư nợ cho vay tiêu dùng hiện đạt hơn 6% GDP và theo ước tính của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, cho vay tiêu dùng có thể chiếm tới 10% GDP (trên 10 tỷ USD/năm) vào năm 2020. Khái niệm về cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu như: mua sắm, sửa chữa nhà cửa, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, … và các nhu cầu chi tiêu cho y tế, giáo dục, du lịch cho cá nhân và hộ gia đình. Cho vay tiêu dùng đáp ứng được nhu cầu vượt quá khả năng thanh toán, nâng cao mức sống của người tiêu dùng, đồng thời đẩy mạnh tiêu thụ cho người bán, giúp quá trình lưu thông hàng hóa từ khâu sản xuất đến tiêu dùng 11 được thông suốt và hiệu quả.
Cơ hội tiếp cận với các khoản tài chính tiêu dùng đã giúp cho nhiều người có thể đáp ứng dễ dàng hơn nhu cầu tiêu dùng của mình, nâng cao khả năng tiếp cận tài chính, góp phần gia tăng công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ thành quả phát triển của thế giới giữa các nhóm thu nhập khác nhau, đồng thời, thúc đẩy tăng sản lượng sản xuất, tạo thêm các cơ hội việc làm, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Đối tượng của cho vay tiêu dùng Đối tượng của cho vay tiêu dùng rất đa dạng nhưng có thể khái quát thành các nhóm như sau: Phân loại đối tượng theo thu nhập: Nhóm đối tượng thu nhập thấp: Nhu cầu tín dụng của nhóm người này thường hạn chế do nguồn thu nhập không đủ để thoả mãn nhu cầu đa dạng của họ. Tuy nhiên họ cũng có nhu cầu chi tiêu không khác mấy so với nhóm có thu nhập cao hơn. Do đó nếu có phương pháp phù hợp thì cũng có thể hình thành các khoản vay hợp lý tới nhóm đối tượng này.
Nhóm đối tượng có thu nhập trung bình: Nhu cầu tín dụng có xu hướng tăng trưởng ngày càng mạnh bởi khoản tích luỹ của nhóm này tuy ít song thu nhập trong tương lai của họ ổn định có thể chi trả cho những nhu cầu hiện tại. Nhóm đối tượng có thu nhập cao: Những người này thường cần tới những khoản vay với tư cách là các khoản phụ trợ linh hoạt, trợ giúp thêm các khoản thanh toán đặc biệt khi tiền của họ đã đầu tư vào các khoản đầu tư dài hạn. Mặc dù việc vay mượn nhằm mục đích tiêu dùng của họ chỉ thể hiện một tỷ trọng nhỏ trong tổng số tài sản mà họ sở hữu nhưng lại là một món tiền lớn so với các nhóm khách hàng khác nên các ngân hàng rất quan tâm tới nhóm khách hàng này. Phân loại đối tượng theo tình trạng công tác hay lao động: Nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân còn phụ thuộc rất nhiều tính chất 12 công việc, nghề nghiệp.
Xét theo khía cạnh này chúng ta có những nhóm khách hàng như: - Cán bộ công nhân viên chức. - Những người làm công việc kinh doanh riêng. - Những người hành nghề chuyên nghiệp (Bác sĩ, giáo viên, …). - Những người lao động tự do.
Trên thực tế, những khách hàng thuộc ba nhóm khách hàng đầu tiên có thu nhập cao và ổn định hơn so với nhóm khách hàng cuối nên nhu cầu vay tiêu dùng cũng chủ yếu phát sinh từ 3 nhóm trên. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng a. Đặc điểm về khách hàng của cho vay tiêu dùng Đối tượng của cho vay tiêu dùng là cá nhân và hộ gia đình nên khó thu thập thông tin khách hàng. Đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình thông tin làm cơ sở phân tích để ngân hàng quyết định cho vay hay không? Đó là những thông tin về nghề nghiệp, thu thập, độ tuổi, tình trạng sức khỏe, nơi cư trú.
Những thông tin này do chính khách hàng cung cấp, do vậy mang tính chủ quan, một chiều, không được kiểm toán, kiểm soát như đối với khách hàng doanh nghiệp và do đó, có thể không chính xác, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng. Tuy nhiên, mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình. Do vậy, nguồn trả nợ của khoản vay tiêu dùng thường từ tiền lương hàng tháng, kinh doanh của khách hàng, không nhất thiết phải là kết quả của việc sử dụng vốn vay nên nguồn trả nợ thường mang tính ổn định, thường xuyên nên hầu hết các khoản vay tiêu dùng thường an toàn, ít xảy ra nợ quá hạn. Đây là hình thức cho vay mà các ngân hàng cần mở rộng nhằm phân tán rủi ro từ các khoản vay thương mại.
Đặc điểm về quy mô Đối với cho vay tiêu dùng người ta có thể thấy một đặc điểm là số lượng 13 khách hàng vay thì rất lớn nhưng giá trị các khoản vay thường nhỏ, đặc điểm này là do đối tượng của cho vay tiêu dùng là cá nhân và hộ gia đình chỉ để đáp ứng cho mục đích tiêu dùng khi mà tích lũy chưa đủ khả năng chi trả. Ngân hàng thường tốn nhiều thời gian, chi phí, sức lực mà khối lượng cho vay lại rất ít, do đó chi phí bình quân cho một hợp đồng vay tương đối cao. Bên cạnh đó, các khách hàng vay vốn đều có nhu cầu vay nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn định, người tiêu dùng sẽ có thái độ lạc quan hơn, họ kỳ vọng sẽ có được khoản thu nhập cao hơn trong tương lai.
Do đó, chi tiêu người tiêu dùng ở hiện tại được thúc đẩy, nhu cầu vay tiêu dùng của người tiêu dùng sẽ xuất hiện và tăng lên nhanh chóng. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân có xu thế giảm chi tiêu, không kỳ vọng nhiều vào nền kinh tế, không muốn đến ngân hàng vay vốn nữa, cho vay tiêu dùng sẽ gặp nhiều khó khăn. Đặc điểm về lãi suất Lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất các loại cho vay trong các lĩnh vực khác. Ngoài ra, chi phí của nó cũng thường cao hơn so với các khoản vay khác do phải bù đắp rủi ro có thể xảy ra đối với các khoản vay.
Cho vay tiêu dùng từ khi ra đời và phát triển đã đem lại cho các ngân hàng lợi nhuận lớn, lãi suất cho vay tiêu dùng thường được cố định chứ không thả nổi như những hình thức tín dụng khác. Còn hiện nay, trong môi trường cạnh tranh đã buộc các ngân hàng phải thay đổi, lãi suất cho vay tiêu dùng đã có sự thả nổi nhưng đây là sự thả nổi chưa hoàn toàn. Khi đưa ra mức lãi suất cho vay cố định đó, các ngân hàng thường phải dự tính đến yếu tố lãi suất huy động đầu vào sẽ thay đổi như thế nào để làm căn cứ đưa ra lãi suất cho vay tiêu dùng. Vì vậy, lãi suất cho vay tiêu dùng không linh hoạt như các khoản cho vay kinh doanh khác.
Đây cũng là yếu tố tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng khi 14 lãi suất huy động tăng. Ngoài ra, có thể thấy nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co giãn với lãi suất.