CHƯƠNG 1. NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CÓ TÀI SẢN ĐẢM BẢO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Nguyên tắc trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Nguyên tắc cho vay, vay vốn của tổ chức tín dụng được quy định tại Điều 4 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành như sau: 1.Nguyên tắc vay vốn phải có mục đích và sử dụng đúng mục đích Nguyên tắc này thể hiện qua các yêu cầu: Mục đích vay phải tường minh, thể hiện rõ trên cam kết giữa ngân hàng và khách hàng Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp Khách hàng phải sử dụng vốn đúng với mục đích đã thỏa thuận Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do hai bên: ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ của ngân hàng.
Do vậy về phía ngân hàng trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng đồng thời phải kiểm tra xem khách hàng có sử dụng đúng mục đích như đã cam kết hay không. Điều này rất quan trọng vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ sau này. Nguyên tắc vay vốn phải có đảm bảo Theo nguyên tắc này đòi hỏi người đi vay phải có tài sản làm bảo đảm cho khoản tiền vay hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Nguyên tắc này nhằm giúp cho ngân hàng có khả năng thu hồi được vốn vay khi nguồn thu nhập của người đi vay không đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng.
Có thể nói đây là nguồn thu nợ thứ 2 cho ngân hàng 4 1. Nguyên tắc vay vốn phải hoàn trả đầy đủ cả vốn và lãi theo đúng thời hạn quy định Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền.
Do đó sau khi cho vay trong một thời hạn nhất định khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho ngân hàng để cho ngân hàng trả lại cho khách hàng gửi tiền. Hơn nữa bản chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay được hoàn trả cả gốc và lãi. Phân loại cho vay của ngân hàng thương mại 1.1 Căn cứ vào thời hạn vay Theo Nguyễn Thị Uyên Phượng(2015) thì căn cứ vào thời hạn vay thì cho vay được chia làm 3 loại sau đây: Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn vay dưới 12 tháng vàđược sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và cácnhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng.Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xâydựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 thángtrở lên.
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có qui mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.2 Căn cứ vào độ tín nhiệm của khách hàng Theo tác giả Nguyễn Thị Thúy (2011) thì căn cứ vào độ tín nhiệm của khách hàng thì cho vay được chia làm 2 loại sau đây: Cho vay không có tài sản đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Loại tín dụng này thường được cấp cho khách 5 hàng có uy tín lớn, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, thường xuyên làm ăn có lãi, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với qui mô vốn của người vay. Các khoản vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn hoặc các khoản cho vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng… cũng có thể không cần tài sản đảm bảo. Cho vay có tài sản đảm bảo: là loại vay dựa trên các bảo đảm như thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba.
Sự bảo đảm cho phép các ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán tài sản đó khi nguồn thu nợthứ nhất từ quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng không đủ để trả nợ ngân hàng. Hình thức này thường áp dụng đối với các khách hàng vay vốn lần đầu, chưa có uy tín hoặc uy tín không cao đối với ngân hàng.3 Căn cứ vào phương thức cho vay Theo Nguyễn Phan Hòa (2017), Căn cứ vào phương thức cho vay thì cho vay được chia làm 2 loại sau đây: Cho vay bằng tiền: là hình thức cho vay mà hình thái giá trị của tín dụngđược cung cấp bằng tiền. Đây là loại cho vay chủ yếu của ngân hàng và đượcthực hiện bằng các kỹ thuật như: tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp… Cho vay bằng tài sản: cho vay bằng tài sản được áp dụng đó là tài trợ thuê mua. Theo phương thức cho vay này ngân hàng hay các công ty thuê mua (thông thường là các công ty con của ngân hàng) cung cấp trực tiếp tài sản cho người đi vay được gọi là người đi thuê và theo định kỳ người đi thuê hoàn trả nợ vay baogồm cả gốc và lãi.4 Căn cứ vào nguồn gốc khoản vay Căn cứ vào nguồn gốc khoản vay cũng theo tác giả Nguyễn Phan Hòa (2017) thì cho vay được chia làm 2 loại sau đây: Cho vay trực tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay chongân hàng.
6 Cho vay gián tiếp: là các khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.5 Căn cứ theo mục đích sử dụng Theo nghiên cứu của Hà Thành Chung (2018) thì Mục đích khi sử dụng vốn vay thường gồm những hoạt động như sau: Cho vay kinh doanh bất động sản: thường bao gồm các khoản vay xây dựng ngắn hạn, giải phóng mặt bằng hay cho vay dài hạn tài trợ việc mua nhà, mua đất … Đối với loại vay này, tài sản tiền vay được đảm bảo bằng chính tài sản thực (nhà đất, tòa nhà…) Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Là khoản cho vay các doanh nghiệp, tổ chức với mục đích mở rộng sản xuất kinh doanh. Cho vay nông nghiệp: Là khoản vay hỗ trợ nông dân sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt, chăn nuôi, bảo vệ hoa màu… Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống: Thường là các khoản cho vay cá nhân, hộ gia đình với mục đích tài trợ cho các nhu cầu tiêu dùng hàng ngày như mua sắm trang thiết bị, ô tô, chi phí học hành, du lịch, y tế… Cho vay kinh doanh khác: Là các loại hình khác không thuộc các khoản vay trên như cho vay kinh doanh chứng khoán, tài trợ thuê mua… 1.Khái niệm cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế, đóng vai trò là kênh cung ứng vốn cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần kích thích và thúc đẩy sản xuất phát triển. Luật các tổ chức tín dụng (2010) “Cho vay là hình thức cấp tín dụng mà bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” 7 Theo Nguyễn Thị Cúc (2008), định nghĩa “cho vay là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn và tài sản từ Ngân hàng cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định với 1 khoảng chi phí nhất định.” Cho vay tiêu dùng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng (người cho vay) và các cá nhân, hộ gia đình (người đi vay) nhằm mục đích ngân hàng tài trợ cho các khách hàng có thể tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.trước, để phục vụ cho đời sống, nâng cao mức sống khi mà chưa có khả năng thanh toán hiện tại trên nguyên tắc người tiêu dùng sẽ hoàn trả cả gốc và lãi tại một thời điểm xác định trong tương lai. Như vậy, cho vay tiêu dùng chính là hình thức cấp vốn cho người dân phục vụ vào mục đích tiêu dùng hằng ngày, tài trợ các khoản chi tiêu cho họ giúp họ có khả năng chi trả để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống và nâng cao chất lượng đời thường.4 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay có những đặc điểm sau: Lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro Một là, hoạt động cho vay dựa trên cơ sở lòng tin.
Người ta chỉ cho vay khi người ta tin tưởng, người đi vay có ý muốn trả nợ và có khả năng trả nợ. Đồng thời người ta tin rằng người sử dụng lượng giá trị đó sẽ thu được lượng giá trị cao hơn, đạt hiệu quả sau một thời gian nhất định, người cho vay cũng tin tưởng người đi vay có ý muốn trả nợ thì hoạt động cho vay mới xảy ra. Như vậy có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập các hoạt động cho vay. (Theo Nguyễn Minh Kiều ,2009) Hai là, tính hoàn trả.
Đối với hoạt động cho vay thì đây là đặc điểm cơ bản nhất và sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt hoạt động cho vay với các hoạt động tài chính khác. Trong tính hoàn trả thì lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn về cả thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: Gốc và lãi .