Chương 1: Giới thiệu; Chương 2: Cơ sở lý luận và khung lý thuyết; Chương 3: So sánh hiệu quả tài chính của Vietcombank; Chương 4: Mô hình quản trị; Chương 5: Kết luận và Khuyến nghị chính sách. -4- CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 2.1 Giới thiệu Ngân hàng Nhà nước và Hệ thống Các Tổ chức Tín dụng Việt nam Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối, thực hiện chức năng Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm sự an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hệ thống các Tổ chức Tín dụng (TCTD) Việt nam bao gồm1: Ngân hàng; Tổ chức tín dụng phi ngân hàng; Tổ chức tài chính vi mô; Quỹ tín dụng nhân dân; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Văn phòng đại diện. Hệ thống Ngân hàng gồm có: Ngân hàng thương mại (NHTM); Ngân hàng chính sách và Ngân hàng hợp tác xã. Hệ thống NHTM có tổng cộng 43 ngân hàng: 04 Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN), 31 Ngân hàng Thương mại Cổ Phần (NHTMCP), 06 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 02 ngân hàng Liên doanh. Cho đến nay có ba NHTMNN đã được cổ phần hóa, nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV).2 Mục tiêu cổ phần hóa NHTMNN Tháng 03/2004, trong hội nghị về đổi mới doanh nghiệp nhà nước, chủ trương cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước được đưa ra, ý tưởng này bắt đầu được hình thành 1 Ngân hàng Nhà nước, 2016.
“Hệ thống các TCTD”. Tại https://www.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/htctctd. -5- trong đề án tái cơ cấu lại các ngân hàng thương mại nhà nước được ngân hàng nhà nước xây dựng năm 20012. Mục tiêu của cổ phần hóa các NHTMNN là3: chuyển đổi mô hình hoạt động của NHTMNN sang NHTMCP; nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng bằng cách huy động nguồn vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước; đổi mới phương thức quản trị ngân hàng; đổi mới công nghệ và đảm bảo các ngân hàng hoạt động công khai minh bạch theo nguyên tắc thị trường.
Tháng 05/2004, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng song Cửu Long được đưa vào danh sách cổ phần hóa theo quyết định số 84/2004/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ. Sau rất nhiều trở ngại và trì hoãn trong quá trình chuẩn bị cổ phần hóa Vietcombank, cuối cùng đến tháng 2/2007 kế hoạch cổ phần hóa được công bố và kết thúc vào ngày 26/12/2007 khi thực hiện IPO, đến ngày 30/06/2009, cổ phiếu Vietcombank được niêm yết trên sàn chứng khoán. Sau khi Vietcombank được cổ phần hóa thành công đã làm cơ sở để tiếp tục cổ phần hóa Vietinbank vào năm 2009 và BIDV năm 2012. Trong thời gian tới đây, Argribank sẽ là NHTMNN cuối cùng được tiến hành cổ phần hóa.
Theo quyết định số 58/2016/QĐ-TTg về tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước và danh mục doanh nghiệp nhà nước thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016 – 20204 có Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) sẽ được cổ phần hóa và Nhà nước chỉ còn nắm giữ 65% vốn điều lệ. Sau 10 năm được cổ phần hóa, hoạt động của Vietcombank đã phát triển vượt bậc về mặt quy mô vốn điều lệ tăng gấp 3 lần, tổng tài sản đã tăng gấp 3,65 lần, lợi nhuận tăng gấp 5,8 lần. Cho đến nay, Vietcombank vẫn giữ được vị thế của một NHTM hàng đầu của Việt Nam. 2 Huỳnh Thế Du, Vũ Thành Tự Anh, 2005.
“Cổ phần hóa trong quá trình cải cách các ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam”. 3 Huỳnh Thế Du, Jay Rosengard, 2009. “Cổ phần hóa Vietcombank”. “Agribank sẽ cổ phần hóa và được bán 35% vốn nhà nước”.vn/agribank-se- co-phan-hoa-va-duoc-ban-35-von-nha-nuoc- -6- Mục tiêu cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước phần nào đã đạt được khi năng lực tài chính của các ngân hàng đã được nâng lên, thu hút được các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, hoạt động của các ngân hàng sau khi cổ phần hóa đã minh bạch hơn do phải tuân thủ các quy định khi niêm yết trên sàn chứng khoán.
Tuy nhiên, việc đổi mới phương thức quản trị ngân hàng; đổi mới công nghệ cũng chưa tiếp cận được các chuẩn mực quốc tế. Tình hình nợ xấu và sở hữu chéo giữa các ngân hàng vẫn đang là những vấn đề lớn phải giải quyết trong thời gian tới.3 Các nguyên tắc cơ bản đánh giá an toàn hoạt động của ngân hàng 2.1 Tổng quan về Basel 25 Năm 1988, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã giới thiệu một khung rủi ro tín dụng (Basel I) xác định các tiêu chuẩn về vốn để hạn chế rủi ro kinh doanh của các ngân hàng và tăng cường hệ thống tài chính. Để đáp ứng các yêu cầu của phát triển liên tục trong ngành ngân hàng, năm 2004, Basel II được ban hành. Basel II giới thiệu một chuỗi các cách tiếp cận rủi ro tín dụng phức tạp và tập trung mới vào rủi ro vận hành.
Basel II sử dụng khái niệm “three pillars”– (1) Yêu cầu vốn tối thiểu, (2) rà soát giám sát, (3) nguyên tắc thị trường. Pillar I : Yêu cầu về vốn tối thiểu. Pillar II: Rà soát giám sát: Các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá an toàn vốn tổng thể của họ và chiến lược để duy trì mức vốn. Pillar III: Nguyên tắc thị trường: Công khai các thông tin cơ bản và các thông tin liên quan đã làm cho nguyên tắc thị trường hiệu quả hơn.
Tại Việt Nam, kể từ đầu năm 2016, 10 ngân hàng đã được NHNN chỉ định thực hiện thí điểm phương pháp quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II, đó là các ngân hàng BIDV, VietinBank, Vietcombank, Techcombank, ACB, VPBank, MB, Maritime Bank, Sacombank và VIB. Việc áp dụng Basel II đối với 10 ngân hàng lớn nhất sẽ khiến các 5 Ngân hàng nhà nước việt nam, 2014. “Tổng quan về Basel 2”. Tại https://www.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/tcthnh.
-7- ngân hàng này phải cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng cho vay và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn.2 Các Quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do NHNN ban hành. Trước khi thông tư số 13/2010/TT-NHNN của NHNN Việt nam quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD được ban hành vào năm 2010, thì những quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân hàng bắt đầu được đưa ra trong Pháp lệnh về ngân hàng năm 1990 và còn khá đơn giản như “Tổ chức tín dụng không được huy động vốn quá 20 lần tổng vốn tự có và quỹ dự trữ”6. Sau cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực năm 1997-1998 với hậu quả là một số ngân hàng mất khả năng chi trả do các quy định về sở hữu không rõ ràng và quy định về việc sử dụng vốn huy động không chặt chẽ nên các ngân hàng sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho vay vào những lĩnh vực rủi ro cao. Và sau khi Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các TCTD ra đời vào năm 1997, năm 1999 NHNN đã ban hành 2 quy định số 296/1999/QĐ- NHNN5 Quy định về giới hạn cho vay đối với một khách hàng và quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN5 Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD.
Trong 2 quyết định này, những chỉ tiêu về đảm bảo an toàn theo Basel 1 như hệ số đủ vốn (CAR) đã được đưa vào. Đến năm 2005, NHNN ban hành quyết định 457/2005/QĐ thay thế cho Quyết định số 297. Theo quyết định 457 các TCTD phải duy trì hệ số an toàn vốn tối thiểu 8% giữa vốn tự có với tổng tài sản có quy đổi rủi ro và vốn tự có bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Sau năm 2007, khi hệ thống ngân hàng gặp phải các khó khăn liên quan đến tình hình thanh khoản của các ngân hàng, cùng với nợ xấu phát sinh trong việc cho vay bất động sản và chứng khoán, NHNN đã ban hành thông tư số 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD.
Có một số nội dung mới như: tăng hệ số đủ vốn từ 8% lên 9%; Xác định chi tiết vốn tự có cấp 1 và cấp 2; Hạn chế các ngân hàng tham gia vào các hoạt động liên quan đến chứng khoán và tăng cường khả năng và quản lý thanh khoản của các ngân hàng. 6 Huỳnh Thế Du, Đỗ Thiên Anh Tuấn, 2013. “Quy định về các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam – Con đường gập ghềnh”. -8- Chính phủ cũng ban hành Nghị định 141/2006/NĐ – CP yêu cầu vốn pháp định tối thiểu của NHTM phải đạt 3.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010.
Thông tư 13 đã bộc lộ một số nội dung chưa phù hợp như: việc định nghĩa vốn huy động không rõ ràng và việc không đề cập đến tỷ lệ LDR trong quy định. Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thông tư 36 bổ sung và tiếp cận sát hơn với thông lệ quốc tế về quản trị ngân hàng và quản lý, giám sát ngân hàng, từng bước thực hiện các quy định của Basel 2 về bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Nội dung của thông tư 36 hướng dẫn các tỷ lệ bảo đảm an toàn bao gồm giới hạn cấp tín dụng; các tỷ lệ về an toàn vốn tối thiểu; tỷ lệ khả năng chi trả, dự trữ thanh khoản; tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn; tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần và tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi.