chương 1 đã giới thiệu tổng quát về đề tài, chương 2 sẽ trình bày các nội dung như các lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, cổ đông chiến lược, đặc trưng tài chính và đặc điểm ngân hàng, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và cuối cùng trình bày các nghiên cứu trước có liên quan.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Theo Phan Đức Dũng (2009), hiệu quả hoạt động kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất, thông qua việc đo lường tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với tổng tài sản và vốn chủ sở hữu. Thái Văn Đại (2014) cho rằng, cũng như một doanh nghiệp, lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM và nó được quyết định bởi mức lãi thu được từ các khoản cho vay và đầu tư, bởi nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, bởi quy mô, chất lượng và thành phần của các tài sản có. Kohler (2012) cho rằng các ngân hàng báo cáo lợi nhuận lãi thuần cao hơn thì ổn định hơn. Nghiên cứu của Poghosyan và Cihak (2011) cũng đưa ra quan điểm rằng các ngân hàng Châu Âu với thu nhập cao thì ít có khả năng trãi qua rủi ro phá sản trong năm sắp tới.
Vì vậy, hiệu quả kinh doanh là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng bởi các ngân hàng đạt lợi nhuận cao hơn là do chúng hoạt động hiệu quả hơn (Olweny và Shipho, 2011). Và chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân (Return on equity - ROE) được xem là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM được các nhà quản trị và các cổ đông đặc biệt quan tâm. Lợi nhuận sau thuế 𝑅𝑂𝐸 = x 100% Vốn chủ sở hữu bình quân Theo Thái Văn Đại (2014), ROE là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn chủ sở hữu, đo lường khả năng lành mạnh trong hoạt động của một ngân hàng. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn của ngân hàng và các quỹ dự trữ, qua đó tỷ lệ này cho biết khả năng sử dụng vốn cổ phần của ngân hàng nên ROE có ý nghĩa quan trọng đối với cổ đông.
ROE càng lớn cho thấy kết quả hoạt động trên vốn cổ phần của ngân hàng càng tốt. Ngoài ra, ROE có công thức mở rộng như sau: Luận văn thạc sỹ 9 Lợi nhuận sau thuế 𝑅𝑂𝐸 = Vốn chủ sở hữu bình quân Lợi nhuận sau thuế Tổng thu nhập Tổng tài sản bình quân = x x Tổng thu nhập Tổng tài sản bình quân Vốn chủ sở hữu bình quân Trong đó, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng thu nhập phản ánh hiệu quả quản lý chi phí của ngân hàng; tỷ suất tổng thu nhập trên tổng tài sản bình quân phản ánh các chính sách quản lý danh mục đầu tư của ngân hàng, đặc biệt là cấu trúc và thu nhập của tài sản; tỷ lệ tổng tài sản bình quân trên vốn chủ sở hữu bình quân phản ánh chính sách đòn bẩy về tài chính tức là việc lựa chọn nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động ngân hàng là nợ hay vốn chủ sở hữu. Tổng thu nhập của ngân hàng bao gồm tất cả các nguồn thu từ các sản phẩm, dịch vụ như các khoản thu từ lãi cho vay, từ hoạt động đầu tư, hoạt động kinh doanh ngoại hối, hoạt động trên thị trường liên ngân hàng, các khoản thu dịch vụ và thu khác (Thái Văn Đại, 2014). Việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM thông qua tỷ số ROE phải được xem xét qua nhiều thời kỳ khác nhau để thấy được xu hướng phát triển và quy luật vận động của chúng.
Ngoài ra, việc nghiên cứu còn phải dựa vào thực tiễn hoạt động của chính ngân hàng đang phân tích, đi sâu vào từng bộ phận cấu thành chỉ tiêu phân tích, từ đó dễ dàng xác định nguyên nhân tăng giảm của các chỉ tiêu, từ đó dễ dàng tìm ra các biện pháp phù hợp (Thái Văn Đại, 2014).2 Cổ đông chiến lược 2.1 Khái niệm cổ đông Trong một công ty cổ phần, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và Luật doanh nghiệp (2005) có quy định rõ: “Cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần”. Ở các tập đoàn lớn, các cổ đông là những cá nhân hoặc tổ chức đầu tư tiền của họ để sở hữu một số lượng cổ phiếu nhất định với mong muốn nhận được lợi nhuận từ giá trị gia tăng tiềm năng của cổ phiếu hoặc cổ tức trong tương lai. Trong khi ở các công ty nhỏ, họ có thể là người thành lập doanh nghiệp hoặc người có quyền lợi cá nhân trong đó. Khi nhà đầu tư mua cổ phần của các công ty, họ nhận được giấy chứng nhận thể hiện số lượng cổ phần mà họ sở hữu.
Nếu công ty mà họ đầu tư hoạt động có lợi nhuận, nhà đầu tư sẽ được nhận một số tiền được chia từ lợi nhuận dựa trên Luận văn thạc sỹ 10 số lượng cổ phiếu mà họ nắm giữ, đó là cổ tức. Ngoài ra, cổ đông cũng nhận được số tiền có thể nhiều hoặc ít hơn số tiền mà họ mua cổ phiếu nếu họ bán cho nhà đầu tư khác hoặc được công ty mua lại tuỳ thuộc giá thị trường của cổ phiếu vào thời điểm đó. Đồng thời, bởi vì họ là chủ sở hữu một phần của một công ty, cổ đông có quyền biểu quyết tại các cuộc họp cổ đông của công ty, chẳng hạn như phê duyệt hay từ chối một đề nghị sáp nhập, xem xét các tài khoản công ty và nhận được báo cáo định kỳ về hoạt động của công ty. Nếu cổ đông không thể tham dự cuộc họp thường niên, họ được phép bỏ phiếu bằng cách gửi thư trong lá phiếu của họ hoặc uỷ quyền cho một cổ đông khác mà họ tin tưởng.
Hơn nữa, nếu một công ty quyết định phát hành thêm cổ phiếu, cổ đông hiện hữu có tùy chọn để mua cổ phiếu trước khi chúng được cung cấp cho công chúng. Tuy nhiên, cổ đông cũng phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn mình đã góp vào. Và bất cứ công ty cổ phần nào cũng bắt buộc phải có cổ phần phổ thông và người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông. Bên cạnh đó, có thể có thêm cổ phần ưu đãi và người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi.
Cổ phần ưu đãi gồm các loại như ưu đãi biểu quyết, ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại hay ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định. Ngoài ra, một hình thức cổ đông khác rất được quan tâm là cổ đông sáng lập. Đây là cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bảng điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần. Theo Luật doanh nghiệp (2005), các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Trong vòng 3 năm kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập không được quyền chuyển nhượng cổ phần cho cổ đông sáng lập khác. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Lúc đó, người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Sau thời hạn ba năm, cổ đông sáng lập sẽ không bị hạn chế vấn đề này.
Luận văn thạc sỹ 11 2.2 Cổ đông chiến lược Theo Hữu Đạo (2014) thì mục tiêu quan trọng nhất đối với bất kỳ công ty nào khi phát hành cổ phần là huy động vốn từ các nhà đầu tư. Cổ đông phổ thông đa phần là nhà đầu tư góp vốn với mong muốn nhận được cổ tức hoặc chênh lệch giá trị cổ phiếu khi bán ra. Cổ đông ưu đãi đa phần là các đối tượng như ban giám đốc, cán bộ nhân viên hay cổ đông hiện hữu nhận được cổ phiếu ưu đãi từ công ty. Cổ đông sáng lập là cổ đông chắc chắn có trong tất cả các công ty cổ phần ngay từ lúc thành lập, có tầm ảnh hưởng quan trọng, không chỉ tác động trực tiếp đến nguồn vốn mà còn ảnh hưởng đến chiến lược phát triển, chính sách nhân sự, công nghệ sản phẩm… Tuy nhiên, có một hình thức cổ đông khác có tầm quan trọng không kém cổ đông sáng lập và có tác động đến toàn bộ hoạt động của công ty đó là cổ đông chiến lược hay nhà đầu tư chiến lược.
Vậy cổ đông chiến lược là gì? Những đối tượng nào được xem là cổ đông chiến lược? Cổ đông chiến lược là 01 từ phát sinh trong thị trường kinh tế, không phải là thuật ngữ trong văn bản luật, mặc dù một số văn bản luật đã nhắc tới nó. Người kinh doanh thì có thể hiểu chiến lược kinh doanh là gì và căn cứ vào chiến lược của công ty, mà có thể xem 1 cổ đông là cổ đông chiến lược. Cổ đông chiến lược có thể là công ty đối tác liên doanh, có thể là công ty có tiềm năng tài chính hay cũng có thể là người lao động (Hữu Đạo, 2014). Như vậy, cổ đông chiến lược ở đây được hiểu là nơi hội tụ những sức mạnh mà doanh nghiệp đó đang thiếu và cần được tăng cường.
Ví dụ như để đẩy mạnh bán hàng, doanh nghiệp cần tìm những cổ đông tương đồng với yếu tố đầu ra của mình. Khi sản xuất một sản phẩm nào đó, nếu những nhà phân phối, tiêu thụ đồng thời là cổ đông, họ sẽ ưu tiên cho sản phẩm ấy bởi vì nó gắn với quyền lợi của họ thì đầu ra của sản phẩm sẽ tốt hơn. Nếu chọn cổ đông chiến lược ở lĩnh vực tài chính - ngân hàng, thế mạnh của họ nằm ở khả năng quản trị. Lúc đó, cổ đông chiến lược này sẽ mang kinh nghiệm và những điểm mạnh của họ để gắn kết vào doanh nghiệp, nhờ đó doanh nghiệp sẽ mạnh hơn.
Ngoài ra, có CĐCL là ngân hàng thì doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi trong việc tiếp cận vốn vay, lãi suất thấp, được ưu tiên sử dụng các dịch vụ khác với thời gian xử lý nhanh, chi phí thấp… Do vậy, tùy theo loại hình kinh doanh của mình mà doanh nghiệp tìm kiếm cổ đông chiến lược cho phù hợp (Nguyễn Cao Khôi và Nguyễn Phương Linh, 2012).