Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Phương Nam – Chi nhánh An Giang Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng Phương Nam – Chi nhánh An Giang Chương 5: Kiến nghị và kết luận GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Diệp SVTH: Huỳnh Thị Thanh Thuý Trang 2 Phân tích hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng TMCP Phương Nam – Chi nhánh An Giang Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Những vấn đề chung về tín dụng 2.1 Khái niệm tín dụng Theo Hồ Diệu (2001): “Tín dụng là một giao dịch về tài sản 1 giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh ngiệp và các chủ thể khác, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”. Từ khác niệm trên quá trình tín dụng có thể tóm tắt thành sơ đồ sau: Tài sản Người cho vay Người đi vay Tài sản + Lãi Ví dụ: Vào ngày 30/03/2009 Ông Văn A sinh năm 1955. Địa chỉ: A/B, Nguyễn Du, P.Mỹ Bình, TP.LX, Tỉnh An Giang CMND số: 351852263 nơi cấp C.A An Giang cấp ngày 01/01/2002. Ông A xin vay tại ngân hàng TMCP Phương Nam – Chi Nhánh An Giang với số tiền là 50.
Cùng ngày 30/03/2009 NHPN đồng ý cho Ông A vay số tiền 50.000 đồng (Năm mươi triệu đồng chẳn) Tài sản thế chấp/ cầm cố của Ông A là: GCNQSDĐ: số 867547435 do UBND TP. Long xuyên, Tỉnh AG cấp ngày 01/01/2000. Giá trị tài sản (theo biên bản định giá ngày 01/04/2009) là: (59,9 m2 *1.000 đ (Bảy mươi một triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng) Thời hạn vay: 12 tháng từ ngày 01/04/2009 đến ngày 01/04/2010 Lãi suất cho vay trong hạn là: 1%/tháng Mục đích vay: tiêu dùng Phương thức trả nợ hàng tháng Giải ngân một lần Phương thức giải ngân nhận bằng tiền mặt. 1 Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
(Theo điều 163 của Bộ luật dân sự) GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Diệp SVTH: Huỳnh Thị Thanh Thuý Trang 3 Phân tích hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng TMCP Phương Nam – Chi nhánh An Giang Vậy đến ngày đáo hạn (01/04/2010) Ông A phải trả số tiền là: 50.2 Bản chất tín dụng Bản chất của tín dụng được hiểu theo hai khía cạnh sau: Thứ nhất: Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội. Thứ hai: Tín dụng là một số vốn, làm bằng hiện vật hoặc bằng hiện kim vận động theo nguyên tắc hoàn trả, nghĩa là vận động từ chủ thể cho vay sang chủ thể đi vay để sử dụng vốn cho kinh doanh hoặc nhu cầu đời sống tiêu dùng.3 Chức năng tín dụng Tín dụng có 3 chức năng: Một là: Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ. Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ sự hoạt động của hệ thống tín dụng mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi của dân chúng, vốn bằng tiền của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền của các tổ chức đoàn thể, xã hội…được tập trung lại, biến nó thành nguồn vốn lớn rồi phân phối lại dưới hình thức cho vay để đáp ứng nhu cầu của sản xuất lưu thông hàng hoá cũng nhu cầu tiêu dùng trong toàn bộ xã hội. Hai là: Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội.
Khi tín dụng hoạt động và ngày càng mở rộng thì tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu, ngân hàng, các loại séc, các phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán… Cho phép thay thế một số lượng lớn tiền mặt lưu hành nhờ đó làm giảm bớt các chi phí có liên quan như in tiền, đúc tiền vận chuyển, bảo quản tiền,… Ba là: Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Sự vận động vốn tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với sự vận động của vật tư, hàng hoá, chi phí trong các xí nghiệp các tổ chức kinh tế, qua đó tín dụng không những là tấm gương phản ánh hoạt động kinh tế của doanh nghiệp mà còn thông qua đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực lãng phí, vi phạm pháp luật… trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.4 Vai trò tín dụng Tín dụng là tập trung huy động nhiều nguồn vốn, gắn liền với sử dụng vốn có hiệu quả để đầu tư phát triển kinh tế, tạo điều kiện tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên, vai trò của tín dụng còn phụ thuộc vào nhận thức và sự vận dụng tín dụng vào thực tế quản lý của con người. Vì vậy trong kinh tế thị trường tín dụng có các vai trò sau: Một là: Tín dụng là công cụ thực hiện tích tụ, tập trung vốn và tài trợ vốn cho các ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Quan hệ tín dụng thực hiện kết nối giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa giao lưu vốn trong nước và nước ngoài. Tín dụng khai thác vốn nhàn rỗi trong xã hội, các quỹ tiền tệ đang tồn động trong lưu thông đưa nhanh vào phục vụ cho sản xuất tiêu dùng xã hội, góp phần điều tiết các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Diệp SVTH: Huỳnh Thị Thanh Thuý Trang 4 Phân tích hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng TMCP Phương Nam – Chi nhánh An Giang Hai là: Tín dụng là công cụ góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả và kiềm chế kiểm soát lạm phát Thông qua tín dụng, bằng các biện pháp huy động vốn và cho vay, thực hiện nghiệp vụ điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, tín dụng góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền vốn tăng lên. Lượng tiền trong lưu thông giảm xuống nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu luân chuyển hàng hoá bình thường, thiết lập mối quan hệ cân đối tiền – hàng làm cho hệ thống giá cả không bị biến động lớn. Từ đó, giúp cho nhà quản lý và điều hành hữu hiệu chính sách tiền tệ.
Ba là: Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội. Hoạt động tín dụng còn đáp ứng nhu cầu nâng cao đời sống vật chất của dân cư. Chẳng hạn trong tín dụng tiêu dùng, những nhà sản xuất kinh doanh hoặc các tổ chức tín dụng cấp tín dụng dưới dạng hàng hoá tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, các tư liệu sinh hoạt,… đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống, sinh hoạt ngày càng cao của người dân. Nhà nước vận dụng quan hệ tín dụng nhà nước để thực hiện các chương trình chính sách xã hội như cho vay xoá đói giảm nghèo, cho vay giải quyết việc làm… từng bước cải thiện đời sống dân cư, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội phát sinh trong cơ chế kinh tế thị trường.
Bốn là: Tín dụng là một trong những phương tiện kết nối nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế cộng đồng thế giới, góp phần phát triển mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế giới, các nước thực hiện chính sách kinh tế mở thì tín dụng ngày càng trở nên cần thiết. Tín dụng quốc tế tạo điều kiện cho quá trình chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia thực hiện nhanh hơn, góp phần làm cho các nước chậm phát triển trong một thời gian ngắn có thể được một nền sản xuất với kỹ thuật cao mà các nước phát triển trước đây phải mất hàng trăm năm mới có được.5 Phân loại tín dụng 2 Tín dụng hoạt động rất đa dạng và phong phú. Trong quản lý, để phân tích đánh giá các hoạt động tín dụng làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách tài chính - tiền tệ, các nhà kinh tế thường dựa trên các tiêu thức sau đây để phân loại.
¾ Căn cứ vào yếu tố thời hạn tín dụng Tín dụng bao gồm ba loại: - Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn dưới 1 năm, thường đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoặc phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng bức thiết của dân cư. - Tín dụng trung hạn: Có thời hạn từ 1 – 5 năm. Loại tín dụng này được sử dụng để bổ sung vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm.
Tín dụng dài hạn được sử dụng để hỗ trợ vốn xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các công trình có quy mô lớn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại có thời gian hoàn vốn dài. ¾ Căn cứ vào yếu tố đối tượng của tín dụng 2 Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng. Nhập môn Tài chính - Tiền tệ, NXB Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, tr 71 GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Diệp SVTH: Huỳnh Thị Thanh Thuý Trang 5 Phân tích hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng TMCP Phương Nam – Chi nhánh An Giang Tín dụng được chia làm hai loại: - Tín dụng vốn lưu động: Thể hiện dưới hình thức cho vay để bổ sung vốn lưu động cho các tổ chức kinh tế.
Trên thực tế, loại tín dụng này được thực hiện dưới các hình thức: cho vay để dự trữ hàng hoá, cho vay các khoản chi phí phát sinh trong các công đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, cho vay để thanh toán các khoản nợ. - Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được cấp để bổ sung vốn cố định hình thành nên tài sản cố định; cải tiến kỹ thuật; mở rộng sản xuất; xây dựng các công trình mới. Thời gian tín dụng là trung và dài hạn. ¾ Căn cứ vào yếu tố mục đích sử dụng Tín dụng gồm: - Tín dụng sản xuất lưu thông hàng hoá: Loại tín dụng này được cấp cho các chủ thể kinh doanh hỗ trợ vốn để mở rộng hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hoá.