CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG CẦU BÊ TÔNG CỐT THÉP Ở CÁC TỈNH KHU VỰC NAM BỘ VÀ CÔNG TÁC TĂNG CƯỜNG SỬA CHỮA CÔNG TRÌNH CẦU HIỆN NAY. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CẦU BÊ TÔNG CỐT THÉP KHU VỰC NAM BỘ 1. Sơ lược lịch sử phát triển cầu bê tông cốt thép ở nước ta Tại Việt Nam có thể chia quá trình phát triển cầu BTCT thảnh các giai đoạn tương ứng với các giai đoạn của lịch sử đấu tranh giành độc lập, giữ nước và xây dựng Đất nước. Thời kỳ trước Cách mạng Tháng 8 - 1945: Vào thời kỳ này, đã có nhiều cầu thuộc hệ thống nhịp bản, dầm giản đơn, dầm hẫng, vòm BTCT thường với nhịp 2 đến 20m được xây dựng trên các tuyến đường sắt và đường bộ.
Ví dụ chỉ trên tuyến đường sắt Hà Nội - TP Hồ Chí Minh có khoảng hơn 600 cầu BTCT nhịp từ 8 đến 11m xây dựng từ 1927 - 1932, đến nay vẫn còn tận dụng được sau khi gia cố sửa chữa nhiều đợt. Trên các tuyến đường ô tô ở Nam Bộ còn nhiều cầu dầm hẫng, cầu vòm chạy dưới thuộc loại này đang được khai thác, ở miền Bắc hầu hết cầu BTCT do Pháp xây dựng đã bị phá hoại do bom Mỹ. Thời kỳ sau Cách mạng Tháng 8-1945 đến năm 1954: Đây là thời kỳ kháng chiến chổng Pháp nên hầu như rất ít cầu BTCT được xây dựng mới. Thời kỳ từ 1954 đến 1975: Trong thời kỳ này, Đất nước ta bị chia làm hai miền và sự phát triển cầu BTCT cũng đi theo hai hướng khác nhau.
Ở miền Bắc, ngay sau 1954 nhiều cầu BTCT thường thuộc hệ bản, dầm giản đơn, dầm hẫng đúc bê tông tại chỗ đã được xây dựng. Các đề tài ứng THỰC HIỆN: NGUYỄN CHÍ DŨNG LỚP: CH CẦU HẦM – K20.1 LUẬN VĂN THẠC SỸ 5 ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI dụng BTCT dự ứng lực trong xây dựng cầu lần đầu tiên đã do Đại học Giao thông tiến hành năm 1961: một số cầu giản đơn BTCT dự ứng lực đã được xây dựng như cầu Phủ Lỗ, cẩu Cửa Tiền, cầu Tràng Thưa, cầu Bía (cầu dầm hẫng có chốt giữa), theo đồ án của Việt Nam. Các đồ án điển hình về cầu bản mố nhẹ, dầm giản đơn lắp ghép mặt cắt chữ T có dầm ngang hoặc không có dầm ngang với nhịp 3- 4- 6- 9- 12 - 15- 21m được Viện thiết kế giao thông thiết kế được áp dụng rộng rãi trên các tuyến đường ô tô.Trong quá trình 10 năm xây dựng cầu Thăng Long, một hệ thống cầu dẫn gồm khoảng 4km cầu đường sắt và 2km cầu ô tô bằng các dầm BTCT dự ứng lực kéo trước hoặc kéo sau đã được xây dựng với công nghệ Liên Xô cũ. Qua đó ngành công nghiệp xây dựng cầu BTCT dự ứng lực ở nước ta đã tiến một bước mới.1: Cầu Sài Gòn được xây dựng từ trước những năm 1975 Tại các tỉnh đồng bằng Nam bộ, một số loại đồ án định hình cầu BTCT dự ứng lực theo tiêu chuẩn Mỹ AASHTO đã được sản xuất và lắp ghép rộng rãi trên các tuyến đường bộ trục chính khẩu độ nhịp dầm xấp xỉ là 12 - 18-25 m.
THỰC HIỆN: NGUYỄN CHÍ DŨNG LỚP: CH CẦU HẦM – K20.1 LUẬN VĂN THẠC SỸ 6 ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI Kết cấu dầm BTCT dự ứng lực kéo trước với loại cáp xoắn 7 sợi, d - 12,7mm. Các dầm T được lắp ghép theo phương ngang cầu bằng cáp thép dự ứng lực kéo sau cùng loại nói trên. Dạng kết cấu này được lắp ghép bằng các cần cẩu 40 - 60 tấn, bánh xích.2: Cầu Trần Hưng Đạo-TP.Phan Thiết được xây dựng từ những năm 1970 Thời kỳ từ 1975 đến 1992: Đây là thời kỳ đất nước đã thống nhất nhưng chưa có sự kiện Liên Xô sụp đổ và Mỹ còn phong tỏa kinh tế đối với nước ta. Ở miền Nam, việc sản xuất dầm dự ứng lực vẫn theo mẫu AASHTO cũ của Mỹ tại xưởng dầm Châu Thới gần TP Hồ Chí Minh.Ở miền Bắc, đã có các trung tâm chế tạo các dầm dự ứng lực nhịp đến 33m tại Hà Nội, TP Vinh - Nghệ An.
Thời kỳ này, chúng ta đã tự thiết kế và thi công được một số cầu khung T dầm đeo thuộc hệ tĩnh định có nhịp dài xấp xỉ 60-70m (cầu Rào, cầu Niệm, THỰC HIỆN: NGUYỄN CHÍ DŨNG LỚP: CH CẦU HẦM – K20.1 LUẬN VĂN THẠC SỸ 7 ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI cầu An Dương ở Hải Phòng,.) với cốt thép dự ứng lực dạng bó 24 sợi 0. Thời kỳ 1992 đến nay: Đây là thời kỳ mà quan hệ đối ngoại đã rộng mở và các công nghệ tiên tiến của thế giới đang được chuyển giao vào nước ta. Các dự án lớn cải tạo Quốc lộ 1. các dự án cầu Phú Lương (hệ dầm liên tục), cầu Sài Gòn 2, cầuĐồng Nai 2, cầu Long Thành, v.
đã khởi công hoặc đã hoàn thành với công nghệ đúc hẫng hiện đại. Đến cuối năm 2013 đã có khoảng trêndưới 100 cầu thuộc hệ thống nhịp liên tục được đúc hẫng thành công. Công nghệ đúc đẩy cũng đã được áp dụng thi công các cầu Mẹt (Bắc Giang), Hiền Lương, Quán Hầu, Sảo Phong, Hà Nha. Công nghệ đúc trên đà giáo di động đã được áp dụng cho phần cầu dẫn của các cầu Thủ Thiêm (Tp.
Hồ Chí Minh), Thanh Trì (Hà Nội). Công nghệ đúc hẫng dầm cứng của cầu dây vãng - dầm cứng BTCT đã áp dụng thành công ở cầu Mỹ Thuận (Tiền Giang), cầu Phú Mỹ (Tp. Hồ Chí Minh), cầu Cần Thơ (Cần Thơ - Vĩnh Long). Cầu Rạch Miễu (Bến Tre - Tiền Giang) là cây cầu dây văng đầu tiên do chính các kỹ sư Việt Nam thiết kế và thi công theo công nghệ mới.
Đặc điểm hệ thống cầu bê tông cốt thép cũ ở các tỉnh khu vực Nam Bộ Trải qua quá trình phát triển gắn liền với tiến trình lịch sử của đất nước, hệ thống cầu bê tông cốt thép khu vực Nam bộ đặc biệt là các cầu bê tông cốt thép cũ có những đặc điểm đặc trưng như sau: Kết cấu nhịp cầu phổ biến sử dụng đối với các cầu đường bộ là các dạng điển hình của nhà máy bê tông Châu Thới. Các dạng cơ bản là dạng nhịp 12. Các dạng này được thiết kế theo tiêu chuẩn cũ và có dạng chủ yếu là bê tông cốt thép dự ứng lực, bệ tĩnh định dạng mút thừa chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, đối với các cầu bê tông từ thời Pháp hay các THỰC HIỆN: NGUYỄN CHÍ DŨNG LỚP: CH CẦU HẦM – K20.1 LUẬN VĂN THẠC SỸ 8 ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI cầu bê tông nhỏ từ thời sau 1954 để lại thì hầu hết đã được thay thế mới, các cầu yếu thường có xu hướng thay thế mới do ngoài khả năng chịu lực xuống cấp, quy mô cầu đặc biệt là bề rộng đều không đảm bảo cho mục đích sử dụng cũng như yêu cầu giao thông hiện tại. Có sự thay đồi về hệ thống tiêu chuẩn: Khu vực miền Nam trước đây sừ dụng các loại tiêu chuẩn của Mỹ thông thường với tải trọng thiết kế là HS20-44.
Đến năm 1979, Bộ Giao thông vận tải mới có tiêu chuẩn để thiết kế cầu, tuy nhiên việc vận dụng còn mất thêm một thời gian dài sau đó mới có thể hoàn toàn tuân theo chuẩn mực. Đến năm 2005 tiêu chuẩn thiết kế cầu mới 22TCN 272-05 được ban hành, và một số cây cầu được thiết kế theo tiêu chuẩn mới này cũng đã bắt đầu xuống cấp và cần được tăng cường.3: Cầu Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp với kết cấu nhịp dạng giản đơnT 24.7m Như vậy hệ thống cầu bê tông cốt thép cũ ở khu vực Nam bộ bao gồm nhiêu cây cầu được thiết kế và xây dựng theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau hiện THỰC HIỆN: NGUYỄN CHÍ DŨNG LỚP: CH CẦU HẦM – K20.1 LUẬN VĂN THẠC SỸ 9 ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI đang cùng tồn tại nhưng chủ yếu vẫn là dạng nhịp dầm giản đơn điển hình của nhà máy bê tông Châu Thới.Việc quản lý chất lượng các cầu trước đây không đảm bảo do các tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu chưa đầy đủ, hệ thống khung tiêu chuẩn và pháp lý chưa đầy đủ do vậy chất lượng các công trình chưa đáp ứng được các yêu cầu hiện tại đồng thời chất lượng các công trình có độ tin cậy không cao. Có thể thấy rõ là nhiều công trình cầu trước đây đến nay không có đầy đủ hồ sơ thiết kế và hoàn công cũng như các hồ sơ khác. Điều này gây khó khăn cho công tác quản lý cầu cũng như việc sửa chữa tăng cường.
Nhu cầu phát triển giao thông lớn, không những tăng lên về tải trọng, đồng thời còn tăng lên về quy mô cả tuyến ở những vùng miền xa xôi. Một sổ các công trình trước đây được thiết kế với tải trọng thấp ví dụ H13, H18 theo quy trình 22TCN 18-79 nay do yêu cầu phát triển sản xuất đã đòi hỏi phải tăng lên theo tiêu chuẩn mới vì vậy các công trình cầu cũ đã không còn đáp ứng được các yêu cầu mới. Tình trạng các tải trọng vượt quá mức cho phép đang ngày một trở nên phổ biến. Đây là một hệ quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế.
Tuy nhiên các đơn vị quản lý cầu chưa đủ thẩm quyền cũng như năng lực để kiểm soát tải trọng. Hệ thống chế tài còn thiếu và chưa phù hợp để kiểm soát tải trọng và hạn chế xe quá tải qua cầu. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hư hỏng của các công trình giao thông nói chung và hệ thống cầu cũ tại khu vực Nam bộ nói riêng. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY HƯ HỎNG CẦU BÊ TÔNG CỐT THÉP 1.
Một số hư hỏng thường gặp trên cầu bê tông cốt thép Các dạng hư hỏng thường gặp đối với kết cấu cầu bê tồng cốt thép cũ đó là: THỰC HIỆN: NGUYỄN CHÍ DŨNG LỚP: CH CẦU HẦM – K20.1 LUẬN VĂN THẠC SỸ 10 ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI Nứt bê tông: Hiện tượng nứt bê tông có thể xảy ra với cả cầu bê tông cốt thép thường và bê tông cốt thép dự ứng lực. Trong kết cẩu nhịp cầu bê tông cốt thép thường xuất hiện các vết nút như sau: vết nứt thẳng đứng: xuất hiện ở vùng chịu kéo của các mặt cắt mô men uôn có giá trị tuyệt đối lớn. vết nứt xiên: xuất hiện ở những mặt cắt có mô men và lực căt cùng có giá trị. vết nứt nằm ngang: thường xuất hiện ở đoạn dầm có giá trị lực cắt lớn tại vị trí tiếp giáp giữa cánh dầm và sườn dầm.
Với các dầm BTCT dự ứng lực giản đơn loại nhịp 12.