Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Jahanifa và cộng sự (2019) đã thực hiện phân tích kinh tế về sự thay đổi sử dụng rừng và dat trống, xây dựng chiến lược bảo tồn. Tác gia đã tiến hành phân tích chi phi lợi ích của sự thay đôi sử dụng đất trong các khu rừng thuộc khu hệ thực vật Caspi (tỉnh Mazandaran, Iran) liên quan đến chỉ phí môi trường cùng với các chi phí và lợi ích khác.
Ước tính thiệt hại môi trường do việc thay đổi sử dụng đất. Giá trị của chi phí và lợi ích của sự thay đôi được tinh từ năm 2005 đến năm 2016 theo tỷ lệ lạm phát trung bình hằng năm đến năm 2035. Kết quả của mô hình đánh giá cho thấy có 04 kịch bản không khả thi về mặt kinh tế (chuyên rừng thành đất công nghiệp, chuyền đất trống thành đất công nghiệp, chuyền rừng sang nông nghiệp và chuyển đất trống sang nông nghiệp ) và 02 kịch bản là khả thi khi cân nhắc về môi trường (chuyên rừng thành khu dân cư, chuyền đất trống thành khu dân cư). Nghiên cứu trong nước Đoàn Hữu Tiến (2006) thực hiện đề tài đánh giá và phân tích hiệu quả kinh tế cây Cam Sanh tại nông hộ ở Tiền Giang và Vinh Long, dé tài này đã sử dụng các chỉ tiêu NPV, IRR, BCR dé đánh giá hiệu quả kinh tế ở nhóm vườn dau tư thấp và nhóm vườn đầu tư cao và nhóm hộ trồng giống không xác nhận và nhóm hộ trồng giống xác nhận.
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy nghiên cứu mỗi quan hệ giữa yếu tố giống và mức đầu tư. Sử dụng phương pháp tối đa hoá lợi nhuận trong sản xuất cây Cam Sành, tác giả chia ra làm 02 giai đoạn kinh doanh và khuyến cáo người trồng Cam Sanh nên sử dụng phân bón hợp ly dé mang lại lợi nhuận tối đa. Đàm Văn Vinh (2011) đã thực hiện đề tài đánh giá hiệu quả một số hệ thống nông lâm kết hợp tại địa ban huyện Võ Nhai, tinh Thái Nguyên. Tác giả dựa vào phương pháp RRA và PRA tiến hành thu thập thông tin chung ban đầu về hiệu quả kinh tế của 322 mô hình nông lâm kết hợp hộ gia đình tại huyện Võ Nhai, sơ bộ đánh giá chung về hiệu quả kinh tế của các mô hình NLKH trong toàn huyện và mỗi khu vực sau đó chọn ra 100 mô hình điển hình của 06 hệ thống để điều tra chi tiết để thu thập só liệu phục vụ cho việc tính toán hiệu quả kinh tế của mỗi hệ thống NLKH thông qua phân tích hiệu qua sử dung đất (tổng thu nhập/đơn vị diện tích) hiệu quả sử dụng chi phí (tổng thu nhập/chi phí sản xuất), hiệu quả sử dụng lao động (tổng thu nhập/ngày người lao động).
Ngoài ra tác giả còn đánh giá về hiệu quả môi trường thông qua nghiên cứu mức độ xói mòn đất và hiệu quả xã hội thông qua phân tích số ngày công lao động đầu tư dé thực hiện mô hình NLKH. Trần Văn Ngoan (2012) thực hiện phân tích hiệu quả sản xuất Cao su tiêu điền của nông hộ trên địa bàn huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, đề tài này đã sử dụng các chỉ tiêu phân tích đầu tư như NPV, IRR, BCR, dé đánh giá hiệu quả đầu tư vườn Cao su và phương pháp phân tích hàm sản xuất được áp dụng để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đối với năng suất Cao su. Tác giả điều tra 90 hộ tiểu điền ở các xã Tân Lập, Thạnh Bắc, Tân Bình và sử dụng số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các phòng ban chức năng của huyện Tân Biên; Công ty Cao su Tân Biên, sách và tạp chí chuyên ngành. Kết quả nghiên cứu cho thấy đầu tư ban đầu là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của cả chu kỳ khai thác Cao su.
Với đầu tư ban đầu ở mức cao, mỗi hecta Cao su qua vòng đời 25 năm đem lại cho nông dân mức lợi nhuận là 37.253 nghìn đồng/ha, với suất chiết khấu hàng năm 14,0%. Nghiên cứu cũng đã xác định các yêu tố như diện tích, thuốc trị bệnh, thuốc diệt cỏ, phân bón, công lao động, và mức chi phí đầu tư ban đầu (KTCB) là những yếu tố có ảnh hướng rất lớn đến năng suất vườn cây Cao su trong giai đoạn kinh doanh. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012) đã thực hiện phân tích hiệu quả kinh doanh rừng trồng Keo lai và những nhân tố ảnh hưởng dé làm cơ sở cho việc xác định chu kỳ khai thác tối ưu về kinh tế tại Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc, tinh Đồng Nai. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích dòng tiền được khấu trừ theo thời gian.
Chỉ tiêu phân tích là hiện giá thuần (NPV), tỷ lệ lợi ích chi phí (B/C) va suất nội hoàn (IRR). Kết quả đạt được, tác giả đã tính toán được lợi nhuận ròng lớn nhất (NPV„ax) của rừng trồng Keo lai ở Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc, Đồng Nai là 11,58 triệu đồng/ha; thời gian xuất hiện (NPVinax) tại tuổi 7. Trần Ngọc Hiếu (2016) đã thực hiện đề tài đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rừng Trôm trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, Đề tài đã điều tra chọn mẫu 75 hộ có mô hình trồng rừng Trôm tại các huyện trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận và số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các phòng, ban chức năng của tỉnh. Tác giả phân tích các chỉ tiêu NPV, BCR và IRR để đánh giá hiệu quả đầu tư và phân tích các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rừng Trôm.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy mô hình trồng rừng Trôm trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đã mang lại hiệu quả kinh tế là rat cao, chi phí đầu tư rất thấp, chủ yếu tập trung là công lao động dé chăm sóc và bảo vệ trong giai đoạn đầu. Mặt khác, rủi ro trong việc trồng rừng Trôm cũng như sự biến động về giá cả thị trường và giá các yếu tố đầu vào cũng không ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế mà mô hình trồng rừng Trôm mang lại cho người dân trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện mô hình trồng rùng Trôm trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, đề tài đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển mở rộng mô hình trồng rừng Trôm. Nguyễn Mậu Dũng (2016) đã thực hiện phân tích hiệu quả kinh tế một số mô hình nông lâm kết hợp ở xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình.
Phương pháp nghiên cứu tác giả sử dụng gồm phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp phân tích lợi ích chi phí. Tỷ lệ chiết khấu được sử dụng trong phân tích lợi ích chi phí bằng lãi suất ngân hang trong năm; giá các yếu tố đầu vào, đầu ra sử dụng trong phân tích lợi ích chi phí là mức giá ở địa phương nghiên cứu tại thời điểm thực hiện nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu tác giả chỉ ra rằng có 73% số hộ dân trong xã áp dụng mô hình nông lâm kết hợp với cây lâm nghiệp chủ yếu là keo, bồ đề luồng, xoan và cây nông nghiệp chủ yếu là ngô san, trong đó mô hình bồ đề xen sẵn, ngô và mô hình luồng xen sắn mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Tuy vậy hiệu quả kinh tế của mô hình phụ thuộc vào biến động giá cả thị trường, điều kiện nguồn lực sản xuất của hộ va tỷ lệ chiết khấu.
Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế các mô hình nông lâm kết hợp tại địa bàn nghiên cứu. Nguyễn Thị Thu và cộng sự (2019) đã thực hiện đánh giá hiệu quả của một số mô hình nông lâm kết hợp và đề xuất các giải pháp phát triển tại xã Ia Pal, huyện Chư Sé, tỉnh Gia Lai. Tác giả sử dụng bộ câu hỏi bán định hướng dé đi phỏng van 45 hộ gia đình thực hiện mô hình nông lâm kết hợp, thông qua thu thập thông tin tình hình sử dung đất, thu nhập và chi phí của hộ điều tra, tác giả so sánh hiệu quả kinh tế của mô hình nông lâm kết hợp thông qua tính NPV của từng mô hình. Tác giả sử dụng phương pháp tính điểm dựa vào sự đánh giá cảm quan của người dân thông qua phương pháp PRA dưới sự định hướng của nhóm nghiên cứu về một số tiêu chí đánh giá tác động của mô hình nông lâm kết hợp đến môi trường và lựa chọn cây trồng ưu tiên trong mô hình nông lâm kết hợp dé tổng hợp thành bảng đánh giá hiệu qua tổng hợp của các mô hình theo tiêu chí cho sẵn.
Ngoài ra tác giả còn thực hiện phân tích SWOT các mô hình nông lâm kết hợp tại địa bàn nghiên cứu. Từ kết quả nghiên cứu, phân tích, tac gia đề xuất một sô giải pháp phát triển các mô hình nông lâm kết hợp hiệu quả và bền vững tại địa bàn nghiên cứu. Nguyễn Thị Hồng Mai và cộng sự (2020) đã nghiên cứu những thay đỗi trong sử dụng đất lâm nghiệp của người dân tộc thiểu sé xã Hồng Kim, huyện A Lưới, tính Thừa Thiên Huế. Thông qua phân tích định tính các thông tin thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu, cùng với phân tích thống kê điều tra 80 hộ, bằng phương pháp thống kê mô tả, nghiên cứu cho thấy người dân xã Hồng Kim đã chuyền dịch từ canh tác nương rẫy sang trồng rừng và từ canh tác đa dạng sang độc canh.
Những tác động dẫn dắt sự thay đổi này bao gồm cả chính sách đất đai và thị trường. nghiên cứu đề xuất điều chỉnh quy hoạch sử dung đất dé tăng cơ hội tiếp cận dat đai cho người dân. Xây dựng cơ chế hưởng lợi từ rừng cộng đồng, tạo sinh kế dưới tán rừng tự nhiên, tăng giá trị gia tăng từ rừng trồng, đồng thời tăng cường thực thi pháp luật dé bảo vệ vốn rừng tự nhiên còn lại trên địa bàn. Xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp dé tăng tính đa dạng và nâng cao giá trị kinh tế của đất rừng.
Nghiên cứu của Trần Quang Bảo và cộng sự (2021) về giải pháp phục hồi rừng trên đất lâm nghiệp hiện đang sản xuất nông nghiệp: trường hợp nghiên cứu điểm tại huyện Di Linh, tinh Lâm Đồng.