CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vài nét về bãi biển Đà Nẵng [18] Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km², có vịnh Đà Nẵng nằm chắn bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn và một số cảng chuyên dùng khác, nó nằm trên các tuyến đường biển quốc tế nên rất thuận lợi cho việc giao thông đường thuỷ và còn là nơi trú đậu tránh bão của các tàu có công suất lớn. Biển Đà Nẵng có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài. Tổng trữ lượng hải sản các loại là 1.
Hàng năm có khả năng khai thác 150. Ngoài ra, Đà Nẵng còn có một bờ biển dài trên 30km nổi tiếng với nhiều bãi tắm liên hoàn đẹp tuyệt vời nằm rải rác từ Bắc đến Nam như Nam Ô, Xuân Thiều, Thanh Bình, Tiên Sa, Sơn Trà, Mỹ Khê, Bắc Mỹ An, Non Nước,… với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, trong đó có những bãi tắm đã được du khách thập phương biết đến như những địa điểm nghỉ ngơi, thư giản, tắm biển lý tưởng nhất trong khu vực Châu Á. Đặc biệt, quanh khu vực bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển. Sơ lược về một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế ở Việt Nam [12, 21, 22, 23] 1.
Đặc điểm cấu tạo và sinh lý Có cấu tạo tương đối đồng nhất trong cả lớp. Cơ thể bao trong vỏ cứng hơi kéo dài và tương đối đối xứng hai bên, dẹt, hô hấp bằng mang tấm có hình tiết diện ngang hình chữ W. Vỏ gồm hai mảnh, che kín hai bên thân và dính với nhau ở mặt lưng nhờ dây chằng và các khớp. Vỏ ngoài thường có màu xanh-lam đậm, hơi đen hay nâu.
mặt trong vỏ có lớp xà cừ màu trắng hoặc xanh. Phần lớn lớp hai mảnh vỏ sống ít hoạt động, di chuyển chậm trong bùn đất, trên giá thể hay bám trên đá và thích nghi với đời sống lọc nước. Một số loài hai Luan van mảnh vỏ sống bám trên một mảnh vỏ (hàu) có hai vỏ phát triển không đều: một vỏ chứa toàn bộ cơ thể và một vỏ biến thành nắp đậy. Tốc độ sinh trưởng của nhuyễn thể 2 mảnh vỏ là kết quả của sự tác động các yếu tố như: nhiệt độ, nước, thức ăn, mật độ nuôi, dòng chảy, độ ô nhiễm của môi trường….
Phần lớn lớp hai mảnh vỏ ăn các động vật và thực vật nổi, các vụn hữu cơ lắng đọng, giáp xác…Dòng nước đưa thức ăn vào ở phía sau cơ thể và di chuyển hình chữ U trong khoang áo rồi thoát ra ngoài cũng ở phía sau cơ thể. Vai trò và giá trị kinh tế Nhuyễn thể hai mảnh vỏ đang trở thành ngành có tiềm năng về kinh tế, với giá trị xuất khẩu đứng thứ ba trong ngành thủy sản Việt Nam. Là thành viên quan trọng tham gia vào quá trình làm sạch nước. Thí dụ: một con trai sông ( Anodonta pincinailis ) lọc 12 lít nước/ ngày, một con vẹm xanh (Mytilus) lọc 3-5 lít nước/ ngày, mỗi con hàu làm lắng 1.
Là những vị thuốc hay trong kho tàng y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian. Thịt nhuyễn thể có mùi vị thơm ngon và nhiều đạm, chúng là thức ăn quan trọng, cần thiết và phổ biến đối với con người. Các phần cơ thể của nhuyễn thể được dùng làm nguyên liệu sản xuất các đồ rất độc đáo như sản xuất khuy áo bằng vỏ trai. Một số vùng biển dùng vỏ sò để nung vôi.
Là đối tượng nuôi cấy ngọc. Mặt trong của vỏ trai được dùng làm đồ trang sức, mỹ nghệ có giá trị lớn. Giới thiệu về một số loài nghêu, sò và vẹm 1. Sò huyết Tên tiếng Anh : Blood Cookle, Arca Cuneata Reeve, Granular Ark Tên khoa học : Andara granosa (Linné, 1758) Luan van Sò huyết là loài sống ở vùng trung triều, độ sâu 1-2m nước.
Chất đáy thích hợp là bùn cát. Nơi có ảnh hưởng nước ngọt (độ mặn 15-20 ‰) ở vùng cửa sông là khu vực phân bố thích hợp của sò huyết. Sò huyết thường sống vùi mình trong lớp bùn đáy. Đặc điểm hình thái : Vỏ dày có hình dạng trứng, hai vỏ bằng nhau.
Mặt ngoài vỏ có gờ phóng Hình 1. Sò huyết xạ phát triển, số lượng gờ từ 17 đến 20 gờ, trên mỗi gờ có nhiều hạt hình chữ nhật. Bản lề rộng, hình thoi, có màu nâu đen. Vết cơ khép vỏ sau lớn hình tứ giác, vết cơ khép vỏ trước nhỏ hơn, hình tam giác.
Sò huyết là loài có máu đỏ. Mặt ngoài vỏ có màu nâu đen, mặt trong vỏ có màu trắng sứ. Con lớn, vỏ dài 50-60 mm, cao 40- 50mm. Vùng phân bố : Ở Việt Nam, sò huyết được phân bố dọc ven bở biển từ Bắc vào Nam, ở các vùng cửa sông và đầm phá.
Sò huyết có nhiều ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bến tre, Kiên Giang. Sò lông Tên tiếng Anh : Hakf - crenate Ark Tên khoa học: Anadara subcrenata Sò lông thường sống ở nơi có chất đáy bùn pha lẫn vỏ động vật thân mềm. Đặc điểm hình thái : Vỏ có dạng hình bầu Hình 1. Hai vỏ không bằng nhau, vỏ trái lớn hơn vỏ phải, trên mặt vỏ có 31-35 gờ phóng xạ, trên gờ phóng xạ có nhiều hạt (ụ nhỏ), những hạt này trên gờ phóng xạ rất rõ nét.
Da vỏ màu nâu phát triển thành lông. Bản lề hẹp, màu đen. Cá thể lớn có vỏ dài 46mm, cao 38mm, rộng 32mm. Vùng phân bố : Ở Việt Nam, sò lông phân bố dọc ven biển, có nhiều ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hoá, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận.
Vẹm xanh Tên tiếng Anh : Green Mussel Tên khoa học : Perna viridis (LinnÐ, 1758) Vẹm xanh là loài sống chủ yếu ở vùng hạ triều đến độ sâu trên dưới 10m nước, độ mặn thích hợp từ 20 đến 30‰, đáy cứng, đá, sỏi, gỗ,… Vẹm có một bộ phận lớn, gọi là chân, hình dạng như một cái lưỡi, giúp vẹm bám vào giá thễ và di chuyển. Vẹm sống bằng cách tiêu hóa các vi sinh vật như vi Hình 1.3 Vẹm xanh rong, vi tảo hút qua một hệ thống màng lọc. Chúng thường tụ tập, bám vào đá thành những quần thể. Cách sống tụ họp này giúp vẹm chịu đựng được các cơn sóng vỗ.
Đặc điểm hình thái : Vỏ dạng hình quả muỗm (xoài), đỉnh ở đầu tận cùng vỏ. Vỏ cá thể trưởng thành dài 150mm, cao 65mm, rộng 40mm. Đường sinh trưởng mịn, sắp xếp khít nhau; ở cá thể non da vỏ màu xanh, cá thể trưởng thành da vỏ màu nâu đen. Mặt trong vỏ màu trắng óng ánh.
Vùng phân bố : Vẹm xanh phân bố rộng ở các vùng biển Bắc, Trung và Nam Bộ. Tập trung ở một số tỉnh : Hải Phòng, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Khánh Hoà, Bình Thuận, Hà Tiên, Phú Quốc, Kiên Giang. Nghêu lụa Tên tiếng Anh : Undulating Venus Tên khoa học: Paphia undulata Đặc điểm hình thái : Vỏ cỡ trung bình, tương đối mỏng, có dạng hình bầu dục dài, dài 54mm, cao 30mm, rộng 16mm. Khoảng cách từ đỉnh vỏ đến mép Hình 1.
Nghêu lụa sau bằng 1,5 lần khoảng cách từ đỉnh vỏ đến mép trước, phần trước mép lưng vỏ lõm. Da vỏ láng, các vòng sinh trưởng mịn sắp xếp khít nhau, mặt vỏ có nhiều vân phóng xạ màu tím gấp khúc dạng hình mạng lưới. Luan van Vùng phân bố: Ở Việt Nam, nghêu lụa được phân bố nhiều nhất ở khu vực ven biển miền Trung đến Nam Bộ, từ vùng dưới triều đến vùng biển nông, đáy bùn cát. Tập trung chủ yếu ở Hà Tiên, Rạch Giá, quanh đảo Bà Lụa, Bình Thuận.
Nghêu dầu Tên tiếng Anh : Asiatic Hard Clam Tên khoa học: Meretrix meretrix LinnÐ, 1758 Nghêu dầu được phân bố ở vùng triều đến độ sâu 1-2mm nước. Chất đáy cát có pha bùn, chúng sống vùi trong cát từ 3-4 cm, dùng ống hút nước để lấy thức ăn từ bên ngoài. 0 Đặc điểm hình thái : Vỏ có dạng hình tam giác. Vỏ trái và vỏ phải bằng nhau, mép bụng của vỏ cong đều.
Bản lề ngắn màu nâu đen nhô lên mặt ngoài của vỏ. Vết cơ khép vỏ trước nhỏ hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau lớn hình bầu dục. Da vỏ màu nâu, trơn bóng. Những cá thể nhỏ vùng gần đỉnh vỏ thường có vân răng cưa hay vân hình phóng xạ.
Mặt trong của vỏ màu trắng, mép sau có màu tím đậm. Cá thể lớn có chiều dài 130mmm, cao 110mm, rộng 58mm. Vùng phân bố : Ở Việt Nam, nghêu dầu được phân bố tập trung ở các vùng biển thuộc các tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá, Thái Bình, Nam Định, Bến Tre, Tiền Giang. Nghêu trắng Tên Tiếng Anh: Lyrate asiatic hard clam Tên khoa học: Meretrix lyrata Hình dạng rất giống nghêu dầu nhưng kích thước nhỏ hơn.
Mặt ngoài vỏ màu vàng nhạt hoặc màu trắng sữa, một số cá thể có vân màu nâu. Mặt trong vỏ màu trắng. Nghêu lớn Hình 1. Nghêu trắng có chiều dài 40-50mm, cao 40-45mm và rộng 30-35mm.
Luan van Ở Việt Nam, nghêu trắng được phân bố nhiều ở các tỉnh Trà Vinh, Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trắng và Cần Giờ (TP.Hồ Chí Minh). Sự tồn tại kim loại nặng trong nhuyễn thể hai mảnh vỏ [3, 7, 24] Năm 1986, khi tiến hành phân tích các loại hàu, vẹm, sò,… ở biển Hồng Kông, Trung Quốc đã phát hiện thấy chì, thuỷ ngân, thiếc, antimon tăng lên liên tục trong các loài hải sản đó. Các nghiên cứu trên Thế Giới về các loài trong giống Corbicula (Hến) đều chỉ ra rằng, đây là loài có khả năng tích lũy cao các kim loại nặng đặc biệt là thủy ngân. Nghiên cứu của Inza và cộng sự (1997, 1998) đã nhận thấy Corbicula có khả năng tích lũy nhanh metyl thủy ngân.
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Đào Việt Hà (2002), hàm lượng các kim loại nặng trong vẹm (Perna viridis) tại đầm Nha Phu (Khánh Hòa): 0. Nghiên cứu nồng độ kim loại nặng trong một số mẫu nhuyễn thể hai mảnh vỏ từ bờ biển Đại Tây Dương ở miền Nam Tây Ban Nha của Đại học Seville cho thấy rằng các kim loại nặng: Cr, Ni, Cu, Cd, Pb, As, Hg đều tồn tại và hàm lượng Hg nằm trong khoảng 0. Nhìn chung, sự tích lũy kim loại nặng trong nhuyễn thể hai mảnh vỏ là rất nhiều nhưng để lại hậu quả nghiêm trọng nhất vẫn là thủy ngân. Thuỷ ngân và dư lượng của nó trong môi trường [2, 17, 19, 20] 1.
Giới thiệu về thuỷ ngân Thủy ngân là một nguyên tố hoá học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Hg và số nguyên tử 80.