Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương này trình bày chủ yếu là các phần: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi đối tượng và dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Trong chương này trình bày cơ sở lý thuyết, các nghiện cứu trước trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu.
Tác giả trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu. Đề xuất mô hình nghiên cứu thể hiện mối quan hệ giữa các biến, đề cập đến các biến được đo lường trong mô hình. Trong chương này cũng sẽ trình bày các kết quả tính toán TFP từ kết quả ước lượng hàm sản xuất Cobb – Douglas theo phương pháp GMM hai bước. Chương 4: Phân tích kết quả định lượng.
Nội dung chương 4. Tính toán các kết quả về tốc độ tăng trưởng và mức độ đóng góp của các yếu tố như TFP, vốn và lao động sẽ được làm rõ ở chương này. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Học viên thực hiện: Trần Quốc Huy 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận phát triển kinh tế.
Việc nghiên cứu tăng trưởng kinh tế ngày càng có hệ thống và hoàn thiện hơn. Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và sử dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng. Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng, tăng trưởng kinh tế trước hết là một vấn đề kinh tế, song nó mang tính chính trị xã hội sâu sắc.1 Khái niệm năng suất Để phát triển, các quốc gia và vùng lãnh thổ phải có sự tăng trưởng về sản xuất (hay có thể gọi là đầu ra) của chính mình. Những nghiên cứu kinh tế cổ điển cho thấy có hai nguồn chính của tăng trưởng kinh tế về đầu ra là tăng trưởng các yếu tố sản xuất (lao động và vốn đầu tư cho sản xuất) và hiệu quả (hoặc năng suất) đạt được cho phép nền kinh tế sản xuất ra nhiều hơn với cùng khối lượng đầu vào.
Sản xuất là một quá trình kết hợp những yếu tố vật chất đầu vào (material input) và những đầu vào phi vật chất (như kế hoạch, bí quyết,.) để tạo ra những sản phẩm dùng cho tiêu dùng (đầu ra). Phương pháp kết hợp các đầu ra vật chất và phi vật chất khác nhau của sản xuất để tạo ra đầu ra được gọi là công nghệ (Saari S. Về lý thuyết, sản xuất có thể được trình bày bằng một hàm sản xuất thể hiện mối quan hệ giữa đầu ra, đầu vào, trong đó yếu tố công nghệ được xem xét. Hàm sản xuất đó có thể được sử dụng để đo lường hiệu quả tương đối khi so sánh các công nghệ.
Hàm sản xuất là sự mô tả đơn giản hoá cơ chế của tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự tăng lên của sản xuất của một ngành hoặc một quốc gia (tuỳ thuộc vào chúng ta muốn đo lường gì). Thông thường sự tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng tỷ lệ tăng trưởng năm của sản lượng đầu ra của doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp) hoặc của tổng sản phẩm quốc gia (đối với một quốc gia). Sự tăng trưởng kinh tế thực (không phải do lạm phát) được tạo ra bởi sự tăng trưởng của hai thành phần: tăng lên của đầu vào sản xuất và tăng lên của năng suất.
Vậy năng suất là gì? Theo Cẩm nang của OECD (2001) về đo lường năng suất, năng Học viên thực hiện: Trần Quốc Huy 7 suất được định nghĩa là “quan hệ tỷ lệ giữa khối lượng đầu ra với khối lượng sử dụng đầu vào”.2 Khái niệm năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) Khi đo lường năng suất, người ta có thể xem xét từng yếu tố, nhóm yếu tố hay toàn bộ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất, tăng trưởng kinh tế. Khi nghiên cứu các số liệu thống kê, các nhà kinh tế học đã thấy rằng tại những nước và vùng lãnh thổ có trình độ phát triển cao, trong sự tăng trưởng của kết quả sản xuất, sau khi bóc tách các yếu tố đầu tư thêm lao động, vốn, tài nguyên, v. vẫn còn một phần đáng kể được tăng thêm nhờ những yếu tố không phải vốn và lao động. Những yếu tố này có thể là do áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, tri thức quản lý hiện đại, v.
Nói cách khác, về cơ bản có ba thành phần đóng góp vào năng suất sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ, đó là: (1) lao động, (2) vốn và (3) những yếu tố khác, trong đó có giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ, v. Những phần tăng năng suất không phải do tăng vốn và lao động này được các nhà kinh tế gọi là “Năng suất yếu tố tổng hợp” (tiếng Anh là Total Factor Productivity), sau đây viết tắt là TFP. Tổ chức OECD sử dụng thuật ngữ “Năng suất đa yếu tố” (MFP – Multi factor productivity) để chỉ khái niệm tương đương TFP (OECD, 2001). “Năng suất đa yếu tố” (MFP) liên quan đến sự thay đổi về đầu ra bởi một số loại đầu vào.
MFP được đo lường thông qua sự thay đổi về đầu ra mà không thể tính được thông qua thay đổi của đầu vào phối hợp. MFP thể hiện hiệu quả kết hợp của nhiều yếu tố bao gồm công nghệ, quy mô sản xuất, kỹ năng quản lý, thay đổi trong tổ chức sản xuất. Nói tóm lại, TFP là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động nhờ vào tác động của nhân tố đổi mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động. Theo đó chúng ta có thể chia kết quả sản xuất thành ba phần: (1) phần do vốn tạo ra; (2) phần do lao động tạo ra; và (3) phần do yếu tố tổng hợp tạo ra.
Như vậy, không phải nhất thiết để tăng trưởng sản xuất phải tăng lao động hoặc tăng vốn mà có thể có kết quả sản xuất/đầu ra lớn hơn thông qua tối ưu hoá nguồn lao động và vốn, cải tiến quy trình công nghệ, cải tiến quy trình quản lý. Vì thế chỉ tiêu TFP là chỉ tiêu phản ảnh chất lượng tăng trưởng Học viên thực hiện: Trần Quốc Huy 8 cũng như sự phát triển bền vững của nền kinh tế, là căn cứ để phân tích hiệu quả kinh tế vĩ mô, đánh giá sự tiến bộ khoa học và công nghệ của mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi quốc gia.3 Khái niệm đầu tư: Theo Jeffrey D. Sachs và Larrain (1993) định nghĩa tổng quát về đầu tư như sau: “Đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế”.4 Khái niệm vốn đầu tư: Vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư. Như vậy theo quan điểm kinh tế vĩ mô vốn đầu tư trong kinh tế bao gồm ba nội dung chính là: Vốn đầu tư làm tăng tài sản cố định; Vốn đầu tư tài sản lưu động và Vốn đầu tư vào nhà ở.
Chỉ tiêu “Vốn đầu tư” với nội dung như trên là rất cần thiết cho việc tính toán các chỉ tiêu liên quan như: tích luỹ tài sản, vốn hiện có,. và dùng trong phân tích về hiệu quả của đầu tư và các phân tích khác có liên quan đến vốn đầu tư, đồng thời khái niệm này cũng bảo đảm phạm vi của chỉ tiêu trong so sánh quốc tế. Trước những năm 2000, do chế độ và điều kiện hạch toán, chỉ tiêu “vốn đầu tư cơ bản” hay thường gọi là “vốn đầu tư xây dựng cơ bản” được sử dụng phổ biến. Nhưng từ năm 2000 trở lại đây do thay đổi cơ chế quản lý, chế độ và điều kiện hạch toán, đồng thời do quan điểm của các nhà lãnh đạo, chỉ tiêu “Vốn đầu tư phát triển” đã trở thành một chỉ tiêu thay thế chỉ tiêu “vốn đầu tư XDCB” (trong niêm giám của ngành thống kê hiện nay chỉ công bố số liệu của chỉ tiêu “vốn đầu tư phát triển”).5 Khái niệm tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về qui mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên một đầu người qua 1 thời gian nhất định (thường là một năm).
Học viên thực hiện: Trần Quốc Huy 9 2.6 Khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế: Chất lượng tăng trưởng kinh tế là sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững của nền kinh tế, thể hiện qua năng suất yếu tố tổng hợp và năng suất lao động xã hội tăng và ổn định, mức sống của người dân được nâng cao không ngừng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh cao, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, quản lý kinh tế Nhà nước có hiệu quả.2 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế 2.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Là tổng giá trị sản phẩm hàng hoá dịch vụ cuối cùng được tạo nên trong phạm vi lãnh thổ của một nền kinh tế trong một thời gian nhất đinh thường là một năm. Theo Guell (2008) có 4 nội dung cần phải lưu ý khi xác định GDP. (1) Thước đo bằng tiền nên chịu tác động về giá của hàng hoá và dịch vụ; (2) Chỉ tính sản phẩm và dịch vụ cuối cùng, để tránh tính trùng chỉ có doanh số cuối cùng mới được tính vào GDP; (3) Chỉ tính sản lượng những sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất và cung cấp dịch vụ trong biên giới một quốc gia; (4) Thời gian tính GDP là một năm. Có ba phương pháp tính GDP: + Phương pháp chi tiêu: Phương pháp này đo lường GDP bằng cách thu thập các dữ liệu về chi tiêu cho tiêu dùng (C), đầu tư (I), chi tiêu của chính phủ về hàng hóa dịch vụ (G) và xuất khẩu ròng (NX).
Do giá trị tổng sản lượng hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế (Y) phải bằng tổng chi tiêu để mua lượng hàng hóa và dịch vụ đó nên tổng chi tiêu bằng GDP. Công thức: Y = GDP = C + I + G + (X – M) = C + I + G + NX(2.1) o C: tiêu dùng của hộ gia đình o I: đầu tư của chính phủ và đầu tư của tư nhân (doanh nghiệp và hộ gia đình). o G: chi tiêu của chính phủ.