MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, lĩnh vực phân tích hóa học bằng các thiết bị hiện đại ngày càng phát triển. Phương pháp phân tích huỳnh quang tia X là thiết bị đang được sử dụng phổ biến trên thế giới. Đây là một trong những phương pháp phân tích nhanh, không tốn hóa chất, không gây ô nhiễm môi trường hay còn gọi đó là phương pháp phân tích xanh – thân thiện với môi trường. Đây là một trong những vấn đề mang tính bảo vệ môi trường mà cả thế giới đang hướng tới.
Nó mang đến cho con người lợi ích cả về sức khỏe và kinh tế. Việc nghiên cứu thăm dò quặng Apatit để đánh giá trữ lượng cũng như việc khai thác để sản xuất phân bón, sản xuất axit H3PO4.đang là một vấn đề thời sự. Trong đó việc phân tích mẫu để có được các hàm lượng chính xác phục vụ cho phân tích Apatit nói chung và các khoáng sản khác nói riêng là rất quan trọng. Chính vì vậy đề tài “phân tích định lƣợng một số nguyên tố chính trong quặng Luận văn thạc sĩ Khoa học Apatit bằng phƣơng pháp huỳnh quang tia X (XRF)” đã được chọn để nghiên cứu với mục đích tạo luận cứ khoa học cho việc phân tích các khoáng sản - tài nguyên thiên nhiên của đất nước.
Đó là nhu cầu khách quan và cấp thiết trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả đề tài được ứng dụng vào công tác xác định hàm lượng các nguyên tố trong mẫu Apatit bằng phương pháp huỳnh quang tia X (XRF) tại trung tâm phân tích thí nghiệm địa chất. Kết quả của đề tài có khả năng áp dụng rộng dãi cho các phòng thí nghiệm có thiết bị XRF, góp phần đánh giá trữ lượng cho công tác khai thác cũng như vẽ bản đồ khoáng sản trong cả nước. Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 1 Luận văn Thạc sỹ GVHD: TS.
Trần Quang Tùng 1. CHƢƠNG I: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung về quặng apatit Ở Việt Nam khi nói đến quặng apatit thì thường tập chung chủ yếu ở lào cai. Quặng apatit Lào Cai là một loại quặng photphat có nguồn gốc trầm tích biển, thành hệ tiền Cambri chịu các tác dụng biến chất và phong hóa.
Các khoáng vật phosphat trong đá trầm tích không nằm ở dạng vô định như ta tưởng trước đây mà nằm ở dạng ẩn tinh, phần lớn chúng biến đổi giữa floroapatit Ca5(PO4)6F2 và cacbonat-floroapatit Ca5([PO4],[CO3])3F. Hầu hết các photphat trầm tích dưới dạng cacbonat-floroapatit gọi là francolit. Dưới tác dụng của biến chất, các đá phi quặng biến thành đá phiến, đolomit và quaczit, còn đá chứa photphat chuyển thành quặng apatit-đolomit. Luận văn thạc sĩ Khoa học Hình 1.
Tinh thể Apatit Quặng apatit Lào Cai là loại quặng thuộc thành hệ metan photphorit (apatit- đolomit), là thành hệ chủ yếu được sử dụng cho ngành công nghiệp sản xuất phân bón chứa lân (chứa photpho) ở nước ta. Về trữ lượng thuộc thành hệ apatit-đolomit có trữ lượng lớn nhất phân bố dọc theo bờ phải sông Hồng thuộc địa phận Lào Cai. Mỏ apatit Lào Cai có chiều dày 200m, rộng từ 1 – 4 km chạy dài 100 km nằm trong địa phận Việt Nam, từ Bảo Hà ở phía Đông Nam đến Bát Xát ở phía Bắc, giáp biên giới Trung Quốc [1]. Quặng apatit ở đây được phát hiện từ năm 1924.
Các nhà địa chất đã hoàn thành các nghiên cứu về khảo sát chi tiết địa tầng chứa apatit, nghiên cứu cấu trúc kiến tạo của khu mỏ, nghiên cứu và xác định trữ lượng từng loại quặng. Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 2 Luận văn Thạc sỹ GVHD: TS. Trần Quang Tùng 1. Phân loại quặng apatit 1.
Phân loại theo thạch học Căn cứ vào đặc điểm thạch học người ta chia toàn bộ khu mỏ apatit Lào Cai thành 8 tầng, ký hiệu từ dưới lên trên (theo mặt cắt địa chất) là tầng cốc san (KS) KS1, KS2. Trong đó, quặng apatit nằm ở các tầng KS4, KS5, KS6 và KS7. Trong từng tầng lại được chia thành các đới phong hóa hóa học và chưa phong hoá hoá học. Tầng KS4 (còn gọi là tầng dưới quặng) là tầng nham thạch apatit cacbonat - thạch anh - muscovit có chứa cacbon.
Nham thạch của tầng này thường có màu xám sẫm, hàm lượng chất chứa cacbon tương đối cao, khoáng vật chứa cacbonat là dolomit và canxit trong đó đolomit nhiều hơn canxit. Tầng này gồm 2 loại phiến thạch chính là đolomit - apatit - thạch anh và apatit - thạch anh - đolomit, chứa khoảng 35-40% apatit, các dạng trên đều chứa một lượng cacbon nhất định và các hạt pyrit phân tán xen kẽ nhau, chiều dày của tầng này từ 35 - 40m. Luận văn Tầng KS5 (còn thạc gọi là tầng quặng): sĩ Đây làKhoa họcNham thạch tầng apatit cacbonat. apatit cacbonat nằm trên lớp phiến thạch dưới quặng và tạo thành tầng chứa quặng chủ yếu trong khu vực bể photphorit.
Nằm dọc theo trung tâm khu mỏ Lào Cai từ Đông Nam lên Tây Bắc chạy dài 25 km. Quặng apatit hầu như đơn khoáng thuộc phần phong hoá của tầng quặng (KS5) có hàm lượng P2O5 từ 28 - 40% gọi là quặng loại 1, chiều dày tầng quặng dao động từ 3 - 4m tới 10 - 12m. Ngoài ra, còn có các phiến thạch apatit - đolomit, đolomit -apatit - thạch anh - muscovit. Nằm trên các lớp nham thạch của tầng quặng và thường gắn liền với các bước chuyển tiếp trầm tích cuối cùng.
Nham thạch của tầng này khác với loại apatit cacbonat ở chỗ nó có hàm lượng thạch anh, muscovit và cacbonat cao hơn nhiều và hàm lượng apatit giảm. Phiến thạch của tầng này có màu xanh nhạt, ở trong đới phong hoá thường chuyển thành màu nâu sẫm. Về thành phần khoáng vật, khoáng vật tầng trên quặng gần giống như tầng dưới quặng nhưng ít muscovit và hợp chất chứa cacbon hơn và hàm lượng apatit cao hơn rõ rệt. Chiều dày của tầng quặng này từ 35 - 40m [1].
Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 3 Luận văn Thạc sỹ GVHD: TS. Trần Quang Tùng 1. Phân loại theo thành phần vật chất Dựa vào sự hình thành và thành phần vật chất, khoáng sản apatit Lào Cai phân chia ra 4 loại quặng khác nhau: Quặng loại I: Là loại quặng aptatit hầu như đơn khoáng thuộc phần phong hóa của tầng quặng KS5 hàm lượng P2O5 chiếm khoảng từ 28 - 40%. Quặng loại II: Là quặng apatit-đolomit thuộc phần chưa phong hóa của tầng quặng KS5 hàm lượng P2O5 chiếm khoảng 18 - 25%.
Quặng loại III: Là quặng apatit-thạch anh thuộc phần phong hóa của tầng dưới quặng KS4 và trên quặng KS6 và KS7, hàm lượng P2O5 chiếm khoảng từ 12 - 20%, trung bình khoảng 15%. Quặng loại IV: Là quặng apatit-thạch anh-đolomit thuộc phần chưa phong hóa của tầng dưới quặng KS4 và các tầng trên quặng KS6 và KS7 hàm lượng P 2O5 khoảng 8 - 10%. Luận văn thạc sĩ Khoa học Xuất phát từ điều kiện tạo thành của tầng quặng và dựa vào kết quả phân tích thành phần vật chất, vị trí phân bố, đặc tính cơ lý và công nghệ, quặng apatit Lào Cai được chia làm 2 kiểu: kiểu quặng apatit nguyên sinh và kiểu apatit phong hoá. Các tầng cốc san được chia làm 2 đới: đới phong hoá hoá học và đới chưa phong hoá hoá học.
Quặng apatit loại 3 Lào Cai là quặng apatit-thạch anh nằm trong đới phong hoá thuộc các KS4 và KS6,7 có chứa 12,20% P2O5. Quặng apatit loại 3 là quặng phong hoá (thứ sinh) được làm giàu tự nhiên nên quặng mềm và xốp hơn quặng nguyên sinh. Đây chính là đất đá thải trong quá trình khai thác quặng apatit loại 1 và là nguyên liệu cho nhà máy tuyển quặng apatit loại 3 Lào Cai [1]. Phân loại theo thành phần hóa học Theo các tài liệu địa chất, trong các loại quặng apatit loại 1 loại 2 cũng như loại 3, khoáng vật apatit đều có cấu trúc Ca5F(PO4)3 thuộc loại fluoapatit.
Kết quả Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 4 Luận văn Thạc sỹ GVHD: TS. Trần Quang Tùng phân tích thành phần hóa học các mẫu quặng 3 ở các cốc san thu được giá trị như sau: khoảng 42,26% P2O5; 3,78% F và 50% CaO [2-4]. Một số ứng dụng của quặng apatit Quặng apatit vẫn chủ yếu được khai thác làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất phân bón có nguồn gốc lân (photpho) như: phân lân nung chảy Văn Điển; phân lân của Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao; phân bón Bình Điền; phân NPK Hoàng Liên, phân lân và phân NPK Lào Cai. Trong xử lý môi trường: Apatit có công thức hóa học là: Ca5(PO4)3X (X: Cl, F, OH.), thường có màu xanh nước biển, hay vàng nhạt, tỷ trọng 3,17, thuộc nhóm tinh thể có 6 cạnh hình trụ.
Trong thành phần của apatit có nhiều nguyên tố vi lượng như: Sr, Ba, Mg, Mn, Fe, Al. Quặng tự nhiên của apatit ở dạng kết tinh, khó phân hủy, không tan trong nước và có tính kiềm yếu. Do có cấu trúc hóa học đặc biệt nên apatit có khả năng cố định các kim loại Luận văn thạc sĩ Khoa học nặng, đồng thời cũng có tác dụng xử lý một phần chất hữu cơ, vi khuẩn coliform, chất rắn lơ lửng trong nước thải. Một số tài liệu còn cho rằng, apatit có khả năng xử lý những kim loại nặng nào mà tích số tan của kim loại đó với PO 4-3 nhỏ hơn tích số tan của Ca3(PO4)2.
Trong quá trình xử lý nước thải, đồng thời với quá trình xử lý kim loại nặng và các thành phần khác một lượng nhỏ các hợp chất của photpho cũng được hòa tan vào trong nước, cung cấp thêm dinh dưỡng cho thực vật thủy sinh và vi sinh vật, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lý sinh học sau này. Do đó, trong nhiều công nghệ xử lý nước thải (như nước thải chế biến gỗ), apatit được sử dụng như là một nguồn dinh dưỡng thay thế cho axit photphoric đề tạo tỷ lệ thích hợp với cacbon và nitơ. Người ta có thể sử dụng apatit trong công nghệ xử lý nước thải chứa kim loại nặng trong các ngành mạ điện, cơ khí, luyện kim và chế biến gỗ. Dùng apatit để xử lý kim loại nặng trong đất là phương pháp mới đã được ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới với các tên gọi khác nhau như in-situ remediation technicques (Canada), phot-phát - induce metal stabilization (Hoa Kỳ).
Học viên: Đỗ Đức Thắng MSHV: 2015B0010 5 Luận văn Thạc sỹ GVHD: TS. Trần Quang Tùng Như chúng ta đã biết, kim loại nặng trong đất có khả năng gây nhiễm độc cho thực vật, động vật và cho con người cũng như hệ sinh thái nói chung.