CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan về hệ thống treo ô tô khách 1. Nhiệm vụ, một số bộ phận cơ bản, phân loại hệ thống treo Khi ô tô chuyển động trên nền đường không bằng phẳng, do sự chép hình của bánh xe khiến ô tô bị dao động và gây ra tải trọng động lớn. Tải trọng động này ảnh hưởng xấu đến tính êm dịu và tiện nghi cho người sử dụng, đồng thời làm giảm tuổi bền các chi tiết của ô tô.
Hệ thống treo được hiểu như hệ thống liên kết mềm (đàn hồi) giữa bánh xe thông qua cầu xe với khung xe hoặc vỏ xe. a) Nhiệm vụ: Hệ thống treo thực hiện nhiệm vụ đỡ thân xe lên trên cầu xe; cho phép bánh xe chuyển động tương đối theo phương thẳng đứng đối với khung xe hoặc vỏ xe; hạn chế những chuyển động không muốn có khác của bánh xe. Luận văn thạc sĩ Khoa học Cấu tạo chung của hệ thống treo bao gồm 3 bộ phận cơ bản: Bộ phận đàn hồi; Bộ phận giảm chấn; Bộ phận dẫn hướng. b) Một số bộ phận cơ bản Bộ phận đàn hồi + Nối “mềm” giữa bánh xe và thùng xe giảm nhẹ tải trọng động tác dụng từ bánh xe lên khung trên các địa hình khác nhau đảm bảo độ êm dịu khi chuyển động.
+ Phần tử đàn hồi có nhiệm vụ đưa vùng tần số dao động của xe phù hợp vùng tần số thích hợp với người sử dụng. Bộ phận giảm chấn + Dập tắt dao động phát sinh trong quá trình xe chuyển động từ mặt đường lên khung xe trong các địa hình khác nhau một cách nhanh chóng bằng cách biến năng lượng dao động thành nhiệt năng tỏa ra môi trường. 4 + Đảm bảo dao động của phần không treo nhỏ nhất, sự tiếp xúc của bánh xe trên nền đường, nâng cao khả năng bám đường và an toàn trong chuyển động. Bộ phận dẫn hướng + Xác định tính chất chuyển động (động học) của bánh xe đối với khung, vỏ xe.
+ Tiếp nhận và truyền các lực dọc, ngang và các mô men giữa bánh xe với khung xe và ngược lại. Ngoài ra trên một số hệ thống treo còn có: bộ phận ổn định ngang và các ụ cao su tăng cứng hoặc hạn chế hành trình. Phần tử ổn định ngang: Với chức năng là phần tử đàn hồi phụ làm tăng khả năng chống lật thân xe khi có sự thay đổi tải trọng trong mặt phẳng ngang. Luận văn thạc sĩ Khoa học Các phần tử phụ khác: vấu cao su, thanh chịu lực phụ,.có tác dụng tăng cứng, hạn chế hành trình và chịu thêm tải trọng.
c) Phân loại Việc phân loại hệ thống treo dựa theo các căn cứ sau: - Theo loại bộ phận đàn hồi chia ra: + Loại bằng kim loại: nhíp lá, lò xo, thanh xoắn. + Loại khí: buồng khí nén dạng gấp, dạng sóng, có buồng khí nén phụ. + Loại thuỷ khí: kết hợp giữa khí nén và giảm chấn thủy lực. + Loại cao su: các gối cao su, ống cao su đàn hồi -Theo bố trí bộ phận dẫn hướng chia ra: + Loại phụ thuộc với dầm cầu liền.
+ Loại độc lập: một đòn, hai đòn,. -Theo phương pháp điều khiển có thể chia ra: + Hệ thống treo bị động (Hệ thống treo không điều khiển), + Hệ thống treo chủ động (Hệ thống treo có điều khiển). Giới thiệu một số kết cấu hệ thống treo xe khách[5] a) Phần tử đàn hồi nhíp lá Hệ thống treo phụ thuộc sử dụng phần tử đàn hồi nhíp lá đa số sử dụng trên xe tải, xe khách, xe buýt và treo sau của xe du lịch. Phần tử đàn hồi bộ nhíp lá được cấu tạo từ các lá thép đàn hồi được bó lại với nhau, có chiều dày và cứng lớn, liên kết với khung xe qua các tai nhíp do vậy đảm bảo khả năng truyền lực hay đóng vai trò của bộ phận dẫn hướng trong khi bánh xe dịch chuyển.
11 1 2 3 4 5 Luận văn thạc sĩ Khoa học 10 9 8 6 7 Hình 1. Hệ thống treo sau phụ thuộc loại sử dụng nhíp lá 1: Khung xe 4: Ụ cao su tăng cứng 7: Dầm cầu 10: Kẹp nhíp 2: Ụ hạn chế 5: Tai nhíp sau 8: Bulông quang nhíp 11: Tai nhíp trước 3: Giảm chấn 6: Miếng vát 9: Bộ nhíp lá Kết cấu trên hình 1.1, nhíp lá được xếp thành bộ (9) được kẹp chặt (10) kẹp chống xô ngang nhíp. Trong quá trình làm việc, bộ nhíp biến dạng, bánh xe dịch chuyển lên phía trên bị hạn chế bởi ụ cao su (2). Bộ nhíp, hai đầu liên kết với khung qua tai (11) và (5), tai (5) có kết cấu đặc biệt (6) dạng miếng vát bố trí treo giúp lá nhíp tỳ và trượt theo bán kính cong của miếng vát do vậy có khả năng thay đổi chiều dài làm việc của lá nhíp tức là thay đổi độ cứng của hệ thống treo.
Bộ nhíp được cố định với dầm cầu (7) thông qua quang nhíp (8). Giảm chấn (3) liên kết một đầu với khung xe, một đầu với tai giảm chấn đặt trên dầm cầu. Hệ thống treo sau phụ thuộc thường liên kết trên dầm cầu thường tạo nên góc nghiêng nhỏ cho cầu chủ động. Với những xe tải có dải phân bố tải trọng ở trạng thái không tải hoặc ít tải đến trạng thái đầy tải lớn, hệ thống treo thường bố trí bộ phận đàn hồi nhíp lá kép (nhíp chính và nhíp phụ).
Bộ nhíp chính làm việc khi xe “non” tải, đến một giá trị tải trọng nào đó thì bộ nhíp phụ sẽ làm việc. Với cách bố trí trên làm cho hệ thống treo thay đổi được độ cứng nhưng vẫn đảm bảo tần số dao Luận văn thạc sĩ Khoa học động của hệ thống nằm trong giới hạn cho phép. Kết cấu của hệ thống treo sử dụng bộ nhíp kép được thể hiện trên hình 1. Bộ nhíp chính và phụ được bắt chặt trên dầm cầu nhờ 2 bulông quang dài (11), hai đầu của bộ nhíp chính liên kết với tai nhíp trước (9) và quang treo sau (2) đóng vai trò truyền lực dọc, ngang chính khi bộ nhíp chịu tải.
Bộ nhíp phụ không làm việc ở chế độ không tải, có hai đầu tựa lên các mặt bích cho phép thay đổi chiều dài khi làm việc. So với hệ thống treo sử dụng bộ nhíp đơn, với bộ nhíp phụ có độ cứng tổng cộng lớn hơn, do vậy để dập tắt dao động tốt, hệ thông treo bố trí 4 giảm chấn loại ống, mỗi bên 2 chiếc. Dưới bộ nhíp chính có miếng vát (3). Miếng vát có nhiệm vụ tạo góc nghiêng cho cầu chủ động phù hợp với việc giảm góc nghiêng cho truyền động các đăng.
Hệ thống treo sau phụ thuộc sử dụng bộ nhíp kép 1: Khung xe 4: Bộ nhíp chính 7: Ụ hạn chế 10: Bộ nhíp phụ 2: Quang treo 5: Giảm chấn 8: Kẹp nhíp 11: Bulông quang 3: Miếng vát 6: Dầm cầu chủ 9: Tai nhíp nhíp b) Phần tử đàn hồi kết hợpđộng khí nén- nhíp lá trước Nhíp lá với ưu điểm vừa là bộ phận đàn hồi, bộ phận dẫn hướng Luận văn thạc sĩ Khoa học nên trên một số xe có tải trọng lớn như xe buýt, xe tải nặng có bố trí bộ phận đàn hồi kết hợp giữa nhíp lá và buồng khí nén. Để tận dụng khả năng đàn hồi và dẫn hướng của bộ nhíp lá, buồng đàn hồi được bố trí đặt nối tiếp với bộ nhíp lá (2) như thể hiện trên hình1. Hệ thống treo phụ thuộc sử dụng Balon khí nén- nhíp lá trên ô tô tải 1: Buồng khí nén 3: Giảm chấn 2: Nhíp lá 4: Thanh ổn định 8 Bộ nhíp lá thường có số lượng các lá ít, độ cứng nhỏ nên cho phép hệ thống treo “mềm” khi không tải. Bộ nhíp liên kết như trên hệ thống treo phụ thuộc thông thường.
Hệ thống treo sau phụ thuộc sử dụng Balon khí nén. 1: Buồng khí nén 2: Giảm chấn 3: Giá đỡ 4: Đòn dẫn hướng 5: Nhíp lá Buồng đàn hồi khí nén có thể đặt trực tiếp lên dầm cầu hoặc được đặt trên cánh tay đòn, cho phép hạ thấp chiều cao trọng tâm xe được bố trí trên hệ Luận văn thạc sĩ Khoa học thống treo phụ thuộc cầu sau như thể hiện trên hình 1. Do đặc điểm kết cấu bố trí và tận dụng khả năng dẫn hướng của bộ nhíp lá, bộ nhíp lá 1/4 (5) được sử dụng vừa là bộ phận đàn hồi, vừa là bộ phận dẫn hướng và đóng vai trò truyền lực dọc. Giảm chấn (2) được bố trí nghiêng, theo chiều tạo điều kiện thuận lợi dập tắt dao động và tăng tuổi thọ cho giảm chấn.Bộ nhíp (5), đòn truyền lực dọc (4) và tay đòn 3 đươc bắt chặt lên dầm cầu thông qua các bulông quang.
Sự hoạt động của hệ thống treo khí nén được đảm bảo bởi hệ thống tự động cung cấp khí nén, tự động điều chỉnh chiều cao sàn xe như thể hiện trên hình 1.5 theo nguyên lý cơ bản sau: Khi tăng tải buồng khí nén bị ép lại, sẽ làm thay đổi khoảng cách giữa giá đỡ của các buồng chứa khí và thân xe, dẫn tới làm quay đòn của van mở đường nối khí nén của máy nén khí (buồng chứa khí dự trữ) với buồng khí nén. Hiện tượng dẫn khí nén vào bình chứa đàn hồi 9 kéo dài cho đến khi chiều cao trở lại vị trí ban đầu. Khi giảm tải trọng hiện tượng xảy ra ngược lại. Sơ đồ nguyên lý điều khiển 1: Buồng khí nén 3: Đòn quay 2: Van phân phối 4: Giá đỡ buồng đàn hồi 1 2 Luận văn thạc sĩ Khoa học 3 Hình 1.
Điều khiển hệ thống cấp khí nén 1: Bộ chia khí nén 3: Van điện từ 4 2: ECU 4: Buồng khí nén 5 5: Giá đỡ buồng đàn hồi Sự điều khiển cấp khí có thể thực hiện thông qua van điều khiển có thể là cơ khí hoặc van điện từ. Trên hệ thống đàn hối khí nén điều khiển điện từ như thể hiện trên hình 1. Bốn cảm biến dạng điện trở (2) xác định khoảng cách giữa cầu xe và thân xe. Khi tăng tải các buồng đàn hồi bị ép lại, làm quay đòn nối gắn trên cầu xe, cảm biến thay đổi điện trở và chuyển thành tín hiệu gửi về bộ điều khiển trung t âm (ECU).
Bộ điều khiển trung tâm (1) nhận tín hiệu và xử lý, chuyển lệnh điều khiển cho van điện từ (3). Van điện tử mở đường khí nén cấp thêm áp suất cho buồng đàn hồi, nâng thân xe trở lại trạng thái cân bằng 10 ban đầu. Tương tự như khi giảm tải, khí nén thoát ra khỏi buồng đàn hồi cho đến khi vị trí của cảm biến vị trí trở lại vị trí ban đầu.