MỞ ĐẦU Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Do ở khu vực nhiệt đới ẩm nên khu vực miền Đông Nam Bộ và khu vực lân cận thành phố Hồ Chí Minh xảy ra mạnh mẽ hiện tượng phong hóa. Đặc điểm cấu tạo địa chất khu vực này tạo nên lớp vỏ phong hóa khác nhau phụ thuộc vào đá gốc, địa hình và một số yếu tố khác. Ngoài ra, do mực nước ngầm nằm khá sâu dưới mặt đất tự nhiên nên các lớp đất ở gần bề mặt thường có độ bão hòa thấp. Ở đây, vỏ phong hóa chủ yếu được cấu tạo bởi các lớp đất loại sét.
Các yếu tố trên cho thấy các lớp đất này có thể có tính háo nước và khi tẩm ướt, đặc trưng cơ lý của chúng có thể bị thay đổi đáng kể. Đề tài “Phân tích và đánh giá khả năng ổn định của móng nông trên nền đất có tính lún ướt” nhằm mục đích đánh giá khả năng ổn định của móng nông trên nền đất lún. Kết quả nghiên cứu có thể cung cấp các thông tin hữu ích trong tính toán và thiết kế công trình ở khu vực này. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Tính toán và đưa ra nhận xét về sự thay đổi của các thông số của đất trước và sau khi bão hòa nước.
Từ đó đánh giá khả năng ổn định của móng nông, đưa ra kiến nghị trong việc tính toán thiết kế công trình trên nền đất có tính lún ướt. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Tổng hợp tài liệu báo cáo nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về đất trên lớp vỏ phong hóa và đất có đặc điểm lún ướt. Tính toán các thông số của đất bị ảnh hưởng khi xảy ra hiện tượng lún ướt. Mô hình Plaxis móng nông có xét tới tính lún ướt và so sánh với các phương pháp tính toán khác.
Đưa ra những kết luận về đặc trưng biến dạng và độ bền của đất khi xét đến đặc điểm lún ướt. Đưa ra những kiến nghị trong công tác khảo sát, tính toán thiết kế cho các công trình khi xây dựng trên nền đất có đặc điểm lún ướt. -2- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu là đất loại sét trên vỏ phong hóa và đất có mang những đặc điểm lún ướt. Phạm vi nghiên cứu là tính toán từ kết quả thí nghiệm có sẵn nên mang tính hạn chế về sự đa dạng của đất khi xét tính lún ướt.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về tính lún ướt của đất loại sét. Tổng hợp cơ sở tính toán nền có xét tính lún ướt. Tính toán móng trên nền đất có xét tính lún ướt bằng giải tích. Mô phỏng móng trên nền đất có xét tính lún ướt bằng phần mềm Plaxis 3D.
MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG CƠ LÝ CỦA ĐẤT TRÊN VỎ PHONG HÓA CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ VÀ KHU VỰC LÂN CẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Đặc điểm một số loại đất trên vỏ phong hóa 1. Khái niệm vỏ phong hóa Vỏ phong hóa gồm tổ hợp đất đá được hình thành ở lớp trên cùng của vỏ lục địa Trái Đất, do tác dụng của các yếu tố phong hoá làm phá huỷ các loại đá gốc trầm tích, macma và biến chất trong một thời gian rất dài. Theo ảnh hưởng của khí hậu, vỏ phong hóa ở các đới khí hậu khác nhau có những đặc trưng khác nhau.
Tuỳ mức độ tác dụng của các nhân tố phong hoá vật lý (cơ học), hoá học, sinh học mà thành phần của vỏ phong hóa khác nhau. Trong trường hợp phong hoá cơ học đóng vai trò chủ yếu thì trong vỏ phong hóa còn giữ được cấu trúc của đá mẹ; còn trong trường hợp có mức độ tác dụng cao của phong hoá hoá học, sinh học thì trong vỏ phong hóa không còn thấy được dấu vết cấu trúc ban đầu của đá mẹ. Khi đó, trong đất thường chứa một hàm lượng sét đáng kể. Một số loại đất trên các loại đá khác nhau [1] Đất sườn tàn tích trên vỏ phong hóa ở khu vực Đông Nam Bộ và khu vực lân cận thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: Đất sườn tàn tích, tàn tích trên nền đá bazan trẻ βQ II-IV Do được hình thành muộn, thời gian chưa đủ để phong hóa triệt để thành đất.
Chiều dày lớp phong hóa thường nhỏ hơn 5 m, gồm đất sét, á sét chứa nhiều đá tảng đủ kích thước và dăm sạn. Đất sườn tàn tích, tàn tích trên nền đá bazan cổ βN II-QI Loại đất này phân bố rộng rãi ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Ở điều kiện tự nhiên, đất có khối lượng riêng hạt rắn lớn, dung trọng khô thấp, hệ số rỗng lớn, các chỉ tiêu cơ học (c, φ, E) thuộc loại trung bình. Tính chất cơ lý của chúng thay đổi theo vị trí địa lý và địa hình.
Chiều dày tầng phong hóa từ 20 - 30 m, chia thành ba lớp kể từ mặt đất xuống như sau: Lớp 1 (edQ): Đất sét – á sét màu nâu đỏ, hàm lượng kết vón không đáng kể (khoảng 5 %). Độ ẩm thay đổi nhiều theo mùa mưa và mùa khô. -4- Lớp 2 (eQ): Đất sét – á sét màu loang lỗ. Hàm lượng vón kết laterit và dăm bazan thay đổi trong phạm vi rộng, có thể đạt tới 60 - 70 % hạt có đường kính > 2 mm.
Tùy từng nơi, các vón kết laterit có dạng tròn đặc sít hoặc vô định hình. Lớp 3 (eQ): Đất sét và á sét màu tím gan gà, đốm trắng, phớt các màu khác nhau. Lớp này có dung trọng khô thấp hơn hai lớp trên. Đất trên đá trầm tích lục nguyên (bột kết, cát kết) Đặc điểm của loại đất này là: nếu phân bố ở trên những vùng đồi thoải thì lớp mặt có nhiều hàm lượng hạt kết vón.
Nếu chúng được phân bố ở các sườn núi dốc thì hàm lượng vón kết laterit không đáng kể. Các chỉ tiêu cơ lý tương đối tốt. Đất trên nền đá phun trào (đaxit, biolit, anđezit) Chỉ tiêu cơ lý thuộc loại trung bình. Chiều dày lớp phong hóa bé.
Đất trên đá biến chất (gơnai) Tính chất cơ lý thường biến đổi trong phạm vi rộng. Phân thành nhiều lớp không đồng nhất. Đất trên nền đá xâm nhập sâu (granit, granodierit) Trong lớp edQ thường có tảng lăn, thậm chí là cỡ lớn. Dung trọng khô thấp.
Trong các loại đất phong hóa từ các loại đá khác nhau, chúng tôi nhận thấy đất sườn tàn tích, tàn tích trên nền đá bazan cổ βN II-QI là đối tượng cần nghiên cứu và có nhiều khả năng mang đặc tính lún ướt. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đất trên vỏ phong hóa có đặc tính lún ướt (lún sập) 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Phân loại đất lún ướt của một số tác giả Đất lún ướt được phân phối rộng rãi trong hầu hết các nơi trên thế giới (ví dụ như Hoa Kỳ, Brazil, Ai Cập, Nam Phi và Trung Quốc) đặc biệt là ở vùng khô hạn và bán khô hạn. Theo Clemence và Finbarr (1981) [2] báo cáo, diện phân bố đất hoàng thổ (đất có tính lún ướt) khoảng 17% ở Hoa Kỳ, khoảng 17% ở châu Âu, 15% ở Nga và Siberia, và khu vực rộng lớn của Trung Quốc.
Hoàng thổ cũng gặp ở Nam Mỹ (Argentina và Uruguay) và Nam Phi. -5- Theo Beckwith và Derbyshire (1995) [2] các loại đất lún ướt bao gồm các vật liệu có thể xảy ra các hiện tượng lún sụp. Các tài liệu này bao gồm đất phong hóa hoặc bồi tích do gió, do nước, đất tàn tích và bồi tích, lở tích. Tuy nhiên, Bell và Bruyn (1997) báo cáo rằng phần lớn các loại đất lún ướt tự nhiên là đất bồi tích phong hóa.
Theo Jennings và Knight (1975) [2] loại đất có nhiều khả năng lún ướt là: đất trầm tích có cấu trúc rời xốp; đất trầm tích do gió và đất phong hóa từ đá granit và đá phun trào axit. Đất lún ướt thường được đặc trưng bởi cấu trúc rời xốp và có hình dạng hạt cồng kềnh kích thước hạt cát với một lượng nhỏ hạt sét, phổ biến thường có vật liệu xi măng dính kết nhẹ như canxi cacbonat, muối. Rất nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào các mối quan hệ chỉ tiêu vật lý của đất làm tiêu chí phân loại đất lún ướt.1 Tổng hợp một số tiêu chuẩn đánh giá lún ướt của một số tác giả [2], [3] Người Tiêu chuẩn Ghi chú nghiên cứu eL K = 0,5 - 0,75 mức độ lún ướt cao Denisov Hệ số lún K e0 K = 1,0 sét pha không lún ướt (1951) K = 1,5 - 2,0 đất không lún ướt Gibbs và 1 WL / ( w ) < 1,0 xuất hiện lún ướt Bara d Gs Clevenger d < 12,6 kN/m3 Biến dạng sẽ lớn (1958) d > 14,1 kN/m3 Biến dạng sẽ nhỏ KD < 0 đất có khả năng lún ướt cao Priklonski W WP KD KD > 0,5 đất không lún ướt (1952) IP KD > 1,0 đất trương nở e eL <-0,3 dễ trương nở Markin 0 1 e0 >-0,1 và Sr < 60% dễ lún ướt Minheev e eL 0 (1969) 1 e0 > - 0,1 và Sr < 60 % dễ lún ướt -6- 1 Gibbs R( w ) / WL Dễ lún ướt R ≥ 1 % d Gs 16 %: khả năng lún ướt cao 16 - 24 %: có khả năng lún ướt Handy Đất loess vùng Iowa với hàm 24 – 32 %: nhỏ hơn 50 % có khả (1973) lượng sét (0,002 mm): năng lún ướt > 32 % : không lún ướt CP a ( d 15.27) bW0 17 Ayadat và CP < 1 không xảy ra lún ướt a 0.379 Hanna CP > 1 dễ xảy ra lún ướt b 0.3 Cu 4% Không lún ướt Ayadat và 4 Cu 12 Có thể lún ướt Belouahri Cu 12 Đất lún ướt Theo Marl [4] cho thấy sự thay đổi ứng xử đối với đất lún ướt và đất trương nở trong điều kiện khô và ướt; độ bền giảm khoảng 85% khi bão hòa. Trị số trung bình môđun tổng biến dạng của đất hoàng thổ và dạng hoàng thổ có đặc điểm lún ướt theo số liệu thí nghiệm bằng tải trọng thử của Liên Xô được thể hiện như Bảng 1.