phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo gồm có 3 chƣơng : CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận CHƢƠNG 2: Phân tích đối chiếu cấu trúc- ngữ nghĩa câu hỏi chính danh có từ hỏi Anh- Việt CHƢƠNG 3: Phƣơng thức chuyển dịch câu hỏi chính danh có từ hỏi Anh -Việt 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số quan điểm của các nhà ngôn ngữ về câu hỏi 1. Một số quan điểm của các nhà ngôn ngữ nƣớc ngoài về câu hỏi trong tiếng Anh Hỏi đã đƣợc xác định là một hiện tƣợng ngôn ngữ phổ biến, là thành tố thƣờng xuyên tham gia trong giao tiếp và trong nhận thức của con ngƣời. Câu hỏi đƣợc tiếp cận từ nhiều quan điểm khác nhau và bổ sung nhau của các nhà ngôn ngữ học Anh, Mỹ và nƣớc ngoài.
Chafe trong cuốn Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ (1998) đã tiếp thu quan điểm cấu trúc cú pháp của N. Chomski cho rằng trong các ngôn ngữ có hàng loạt những hiện tƣợng khác loại đƣợc thống nhất bằng một tên chung là “câu hỏi” (questions). Tuy nhiên câu hỏi không phải là một thuật ngữ chính thức bao gồm những câu thuộc một số kiểu loại khác biệt nhau một cách rõ ràng. Cái gì kết hợp những câu nhƣ thế để cho có sự kiện là “về mặt ngữ nghĩa chúng và trong một chừng mực nào đó, chúng tƣơng đồng với những câu cầu khiến, vì câu hỏi là một loại yêu cầu đặc biệt.
Song câu hỏi khác câu cầu khiến là những câu đòi hỏi hình thức của hành động phi ngôn ngữ học nào đó. Các câu hỏi chủ yếu gắn liền với phản ứng ngôn ngữ. Dĩ nhiên có một số câu cầu khiến đòi hỏi phản ứng ngôn ngữ nhƣ “Say your name”( “Hãy nói tên anh”) nhƣng bình diện ngôn ngữ của những câu cầu khiến nhƣ thế rõ ràng gắn với yếu tố phi cầu khiến trong những câu ấy và 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không phải là vấn đề đặc biệt. Tƣơng tự nhƣ vậy, một số câu trả lời bằng cử chỉ nhƣ nhún vai, chỉ trỏ…đều là hành vi phi ngôn ngữ.
Những hành vi kể trên có thể đi kèm với những câu trả lời bằng lời. Nhƣ vậy những kiểu câu hỏi khác nhau đƣợc thống nhất lại bởi việc ngƣời nói nêu chúng ra nhằm gây phản ứng ngôn ngữ ở ngƣời nghe và anh ta làm việc đó mà không vận dụng đến hình thức câu cầu khiến của động từ nhƣ say, tell… Wallace L. Chafe đã phân câu hỏi tiếng Anh thành: - Câu hỏi lựa chọn - Câu hỏi có khuyết thiếu từ vựng - Câu hỏi lặp lại. Tác giả cho rằng sự có mặt của nghĩa nghi vấn trong cấu trúc ngữ nghĩa của câu hỏi biểu thị rằng ngƣời nói yêu cầu ngƣời nghe thông báo cho anh ta cái thông tin mới đề cập tới yếu tố mà nghĩa nghi vấn liên quan đến.
Nghĩa nghi vấn có thể thấy ở các vị trí khác nhau trong cấu trúc ngữ nghĩa, đặc biệt trong thành phần của động từ, hoặc của danh từ khi thay thế cho đơn vị từ vựng đó. Ở vị trí đó, nó chỉ ra rằng ngƣời nói muốn ngƣời nghe bổ khuyết cái đơn vị từ vựng còn thiếu hay làm đầy sự khuyết thiếu về từ vựng đó.Dik phân biệt câu hỏi với câu tƣờng thuật. Câu hỏi không phải là những lời xác nhận. Chúng không thể là chân thực hay không chân thực mà cần có phản ứng đáp lại nào đó.
“ Câu hỏi là biểu thức ngôn ngữ mà qua đó ngƣời nói có thể đƣa ra tín hiệu và muốn nhận một phản hồi bằng lời thích hợp của ngƣời nghe. Các kiểu câu hỏi có thể phân biệt theo loại thông tin đƣợc hỏi và kiểu trả lời có thể áp dụng cho câu hỏi. Những câu hỏi có từ hỏi có mối quan hệ với các động từ hạn định theo kiểu chúng có thể đƣợc hiểu theo 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa của một hoạt động cấu trúc của câu hỏi này, có thể là cấu trúc trung tâm, trong đó thành tố nghi vấn trong câu hỏi có từ hỏi mang chức năng chính, xét về bản chất. “Câu hỏi có từ hỏi bộc lộ đƣợc những đặc tính nổi bật nhất, cụ thể là trong mối tƣơng quan, một mặt với động từ hạn định, còn mặt khác với các cấu trúc khuyết, có thể tách ra đƣợc….
Jacobs trong cuốn “English syntax- A grammar for English language professionals”(1995) đề cập đến một số chức năng của câu hỏi. Theo tác giả, câu hỏi trƣớc hết có một chức năng phổ quát là yêu cầu cung cấp thông tin mà nó đòi hỏi. Bên cạnh đó, câu hỏi còn có thể thể hiện một lời yêu cầu, một lời mời hoặc một sự đe dọa. Tác giả chia câu hỏi làm ba loại: - Câu hỏi lựa chọn - Câu hỏi đuôi - Câu hỏi có từ hỏi Quirk, R.
và Greenbaum, trong cuốn “A university grammar of English” (1985) dựa trên cơ sở nhận định về mối tƣơng quan một đối một của truyền thống giữa nội dung và hình thức, đã có cách nhìn khá đơn giản về câu hỏi. Câu hỏi là những câu đƣợc đánh dấu bằng một trong ba tiêu chí sau : - Vị trí trƣớc chủ ngữ của tác tử: Did you go to shool yesterday? Have you got any brothers or sisters? - Vị trí đầu câu của từ nghi vấn hay từ hỏi: Ví dụ: Where was she born? Who did you stay with? 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Câu hỏi với ngữ điệu lên giọng ở cuối câu. Ví dụ: You are a teacher ↑? They had left when you came ↑? Các tác giả cho rằng câu hỏi dùng để nêu lên điều chƣa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của ngƣời tiếp nhận câu hỏi đó; dùng để hỏi về sự tồn tại của cả một sự việc hoặc đƣa ra một giả thiết đã ít nhiều có tính chất khẳng định ( hỏi tổng quát): Ví dụ: You like your job, don’t you? Hoặc nhằm hỏi về một chi tiết trong sự việc (hỏi bộ phận) What did you do yesterday? Hoặc đƣa ra những khả năng khác nhau cho ngƣời hỏi lựa chọn mà trả lời (hỏi lựa chọn). Would you like tea or coffee? Câu hỏi hoặc câu hỏi phủ định còn đƣợc dùng để khẳng định, để cầu xin, mời mọc, v.
Quan điểm của các nhà ngôn ngữ Việt Nam về câu hỏi Câu hỏi cũng đƣợc các nhà ngữ pháp và ngôn ngữ Việt Nam xem xét, miêu tả và lý giải từ nhiều góc độ khác nhau nhƣng tựu trung là quan điểm ngữ pháp truyền thống hoặc cấu trúc có kết hợp với cách lý giải lô gích học nhƣ của Trần Trọng Kim, quan điểm cú pháp-ngữ nghĩa của Nguyễn Kim Thản, Diệp 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quang Ban, Hoàng Trọng Phiến và gần đây là quan điểm chức năng của Cao Xuân Hạo. Trƣớc đây, trong các sách ngữ pháp, khi nghiên cứu về câu hỏi , các tác giả thƣờng ít chú ý đến xây dựng một định nghĩa chính xác và đầy đủ về câu hỏi trong tiếng Việt mà chỉ xét câu hỏi nhƣ một hiện tƣợng thực tế của tiếng Việt. Trần Trọng Kim trong cuốn “Việt Nam văn phạm” (1943) phân biệt câu hoài nghi và câu nghi vấn, nhƣng chỉ xét đến câu nghi vấn đại danh từ. Tác giả không đƣa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về câu hỏi mà chỉ viết: “ Câu hoài nghi biểu diễn cái ý ngờ, không chắc hẳn.” “ Câu nghi vấn đại danh từ dùng để hỏi cho biết là ngƣời nào hay vật gì đứng là chủ từ hay túc từ.34] Nguyễn Kim Thản trong cuốn “ Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt” (1964) dùng thuật ngữ “câu nghi vấn” và cho rằng “ Câu nghi vấn nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghi của ngƣời nói và nói chung đòi ngƣời nghe tƣờng thuật về đối tƣợng hay đặc trƣng của đối tƣợng.
Nó không chứa đựng phán đoán vì nó chƣa khẳng định hay phủ định gì cả, nó không thật mà cũng không giả”. Tác giả đã phân câu nghi vấn tiếng Việt thành bốn loại: - Câu nghi vấn chân chính - Câu tự vấn - Câu hỏi dồn - Câu hỏi xác nhận Hoàng Trọng Phiến khẳng định rằng “cho dù ở dƣới dạng nào, trong nội dung câu hỏi cũng làm nổi rõ một „cái không rõ‟ mà câu hỏi cần hƣớng tới. Tác giả còn đƣa ra một loại câu hỏi không cần có câu trả lời mà nhằm đạt đến sự đồng tình của ngƣời nghe. Loại câu hỏi đó là câu hỏi tu từ.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Diệp Quang Ban định nghĩa về câu nghi vấn nhƣ sau: “ Câu nghi vấn thƣờng đƣợc dùng để nêu lên điều chƣa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của ngƣời tiếp nhận câu đó, và về mặt hình thức câu nghi vấn cũng có dấu hiệu đặc trƣng nhất định” [1, tr. Dựa vào phƣơng thức cấu tạo nên câu nghi vấn( trong sự đối chiếu với câu tƣờng thuật), ông cho rằng tiếng Việt có các loại câu hỏi sau: - Câu hỏi sử dụng các đại từ nghi vấn - Câu hỏi sử dụng kết từ hay với ý nghĩa lựa chọn - Câu hỏi sử dụng các phụ từ nghi vấn - Câu hỏi sử dụng các tiểu từ chuyên dụng - Câu hỏi sử dụng ngữ điệu thuần túy (chỉ kể trƣờng hợp không có các phƣơng tiện nêu trên) Cao Xuân Hạo cho rằng các câu hỏi của tiếng Việt cũng nhƣ của rất nhiều thứ tiếng khác, “ngoài giá trị hỏi (yêu cầu thông báo ) là giá trị ngôn trung trực tiếp của nó, còn có thể có một (những) giá trị ngôn ngữ phái sinh (phủ định, khẳng định, tỏ ý ngờ vực, thách thức…) và trong nhiều trƣờng hợp, cái giá trị ngôn trung phái sinh này lại là công dụng và mục đích duy nhất của câu nói, trong khi tính chất nghi vấn của câu nói chỉ còn là một hình thức thuần túy, may ra chỉ góp một sắc thái tu từ ( hùng biện) nào đó cho câu. Câu hỏi tiếng Việt đƣợc chia thành hai mảng lớn: - Câu hỏi chính danh - Câu hỏi có giá trị ngôn trung khác Nói chung, việc nghiên cứu câu hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt tập trung nhiều ở cách tiếp cận ngữ pháp hoặc cú pháp- ngữ nghĩa qua các giáo trình 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt của các nhà ngữ pháp học Anh, Mỹ và Việt Nam. Những phân tích câu hỏi từ nhiều quan điểm khác nhau ở trong nƣớc và ngoài nƣớc cho thấy rằng câu hỏi là một hiện tƣợng phổ quát và là một trong những vấn đề quan trọng của ngôn ngữ học đại cƣơng.
Câu hỏi có từ hỏi 1. Câu hỏi có từ hỏi trong tiếng Anh 1.