phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương: 8 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa Chƣơng 2: Thực trạng sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2017 Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa tại Việt Nam thời gian tới 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ 1. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 1. Chính sách tiền tệ 1. Khái niệm CSTT là một trong những chính sách kinh tế của quốc gia, nó được xây dựng và khởi động từ NHTW.
NHTW thực hiện CSTT thông qua các công cụ của mình nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia. Chính sách tiền tệ đóng vai trò là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô cũng như trong quá trình điều hành vĩ mô của Nhà nước. Tuy nhiên, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và góc độ nghiên cứu, ta có thể định nghĩa Chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng và Chính sách tiền tệ theo nghĩa hẹp; Chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương và Chính sách tiền tệ quốc gia. Có thể hiểu CSTT là chính sách kinh tế vĩ mô, thông qua các công cụ của mình, NHTW chủ động thay đổi cung ứng tiền hoặc lãi suất (lãi suất liên ngân hàng mục tiêu) nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội đề ra hoặc theo định nghĩa CSTT lấy từ luật NHNN Việt Nam 2010 (Tại khoản 1 điều 3): “CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra 1.
Mục tiêu của chính sách tiền tệ a. Mục tiêu cuối cùng Tùy vào tình hình kinh tế xã hội của mỗi quốc gia khác nhau mà mỗi nước sẽ theo đuổi những mục tiêu khác nhau, nhưng chủ yếu thường là mức 10 tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm, tỷ lệ lạm phát, xuất nhập khẩu …Do lạm phát cao ảnh hưởng xấu đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nên ở hầu hết các nước, kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và dài hạn của CSTT: Thứ nhất; Mục tiêu ổn định giá cả Keynes cho rằng: việc tăng nhanh cung tiền tệ sẽ làm cho mức giá cả tăng kéo dài với tỷ lệ cao, do vậy gây nên lạm phát. Theo Karl Marx: “lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn ngập các kênh lưu thông tiền tệ, vượt quá nhu cầu của nền kinh tế thực làm cho tiền tệ bị mất giá và phân phối lại thu nhập quốc dân”. Khi lạm phát tăng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, làm cho nền kinh tế phát triển quá nóng dễ lâm vào khủng hoảng, đời sống của người dân khó khăn.
[3] Các NHTW thường lượng hoá mục tiêu này bằng chỉ số CPI. NHTW sẽ cam kết thực hiện chỉ tiêu CPI để ổn định giá trị tiền tệ trong dài hạn. Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả không đồng nghĩa với tỷ lệ lạm phát bằng 0. Những nghiên cứu cho thấy khi cố gắng duy trì lạm phát ở gần mức 0, nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng giảm phát gây hậu quả còn nghiêm trọng hơn, đó làm nền kinh tế suy thoái.
Một mức lạm phát vừa phải được chứng minh là có ảnh hưởng tích cực tới mức tăng trưởng kinh tế. Thứ hai; Mục tiêu tăng trưởng kinh tế Từ quan niệm K.Marx ta có thể hiểu: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm, dịch vụ xã hội và thu nhập của các hộ gia đình và chính phủ. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế là chỉ số phản ánh mức tăng lên của GDP năm nay so với GDP năm trước khi cả hai cùng được tính trên cơ sở mức giá của năm trước. Một nền kinh tế tăng trưởng quá nóng thường kéo theo lạm phát cao, một nền kinh tế suy thoái thường kéo theo giảm phát, cả hai trường hợp này đều bất lợi.
[14] Một sự tăng trưởng kinh tế ổn định sẽ góp phần tạo ra một môi trường 11 kinh doanh thuận lợi, trên cơ sở đó các doanh nghiệp có thể đưa ra một kế hoạch kinh doanh đúng đắn, đẩy mạnh đầu tư, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Thông qua CSTT mà thay đổi lãi suất, qua đó tác động đến tiết kiệm và đầu tư, từ đó tác động đến tăng trưởng kinh tế. Thứ ba; Mục tiêu việc làm cao Việc làm cao là mục tiêu của tất cả các chính sách kinh tế vĩ mô, trong đó có CSTT, việc làm cao có ý nghĩa quan trọng bởi vì: - Thiếu công ăn việc làm dẫn đến dư thừa lao động và các nguồn lực (nhà máy đóng cửa, máy móc thiết bị bỏ không), giảm tốc độ tăng trưởng, giảm sản lượng, hậu quả là giảm GDP. - Thất nghiệp gây nên tình trạng căng thẳng cho cá nhân và gia đình,.
gia tăng các tệ nạn xã hội như trộm, cướp,. Ở các nước phát triển tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên vào khoảng từ 4,5-6%. Hiển nhiên mục tiêu tăng trưởng kinh tế và việc làm cao có mối quan hệ mật thiết bởi các doanh nghiệp đầu tư vốn càng nhiều, mở rộng sản xuất thì thất nghiệp càng giảm nhưng trước hết các chính sách có thể hướng về mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và người dân tiết kiệm, trên cơ sở đó sẽ đạt được mục tiêu việc làm cao. Thứ tư; Mục tiêu ổn định thị trường tài chính Thị trường tài chính là nơi tạo ra nguồn vốn cho phát triển kinh tế, luân chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
Với vai trò quan trọng như vậy, sự ổn định của thị trường tài chính có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế các quốc gia. NHTW với khả năng tác động tới khối lượng tín dụng và lãi suất có thể đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính. Thứ năm; Mục tiêu ổn định lãi suất Lãi suất là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế, ảnh 12 hưởng tới quyết định chi tiêu, tiết kiệm và đầu tư của các tổ chức và cá nhân. Lãi suất biến động thất thường sẽ gây khó khăn cho các tổ chức và cá nhân trong việc dự tính chi tiêu hay lập kế hoạch kinh doanh.
Do đó, ổn định lãi suất là một mục tiêu quan trọng mà các NHTW hướng tới nhằm góp phần ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. Thứ sáu; Mục tiêu ổn định tỷ giá hối đoái Trong điều kiện mở cửa kinh tế, các luồng hàng hoá và tiền vốn gắn liền với việc chuyển đổi giữa đồng nội tệ và ngoại tê. Việc ngăn ngừa những biến động mạnh và bất thường trong tỷ giá sẽ giúp các hoạt động kinh tế đối ngoại được hiệu quả hơn, ngoài ra tỷ giá còn ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước với nước ngoài về mặt giá cả. Mục tiêu trung gian NHTW không thể sử dụng các công cụ của mình để tác động trực tiếp và ngay lập tức đến mục tiêu cuối cùng.
Ảnh hưởng của CSTT chỉ xuất hiện sau một thời gian nhất định. Ở các nước phát triển, tác động của CSTT lên tăng trưởng kinh tế phải mất một năm, còn lên lạm phát phải đến hai năm. Đối với những nước đang phát triển độ trễ sẽ ngắn hơn. Do vậy, NHTW muốn đợi các dấu hiệu về lạm phát, tỷ giá, thất nghiệp và tăng trưởng để điều chỉnh các công cụ của mình thì sẽ quá trễ.
Để khắc phục được hạn chế này, NHTW cần xác định mục tiêu trung gian trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng. Gọi là mục tiêu trung gian bởi vì NHTW không kiểm soát trực tiếp được các chỉ tiêu này, nó nằm ở giữa mục tiêu hoạt động và mục tiêu cuối cùng. Tiêu chí để chọn chỉ tiêu mục tiêu trung gian là: Phải đo lường được: chỉ tiêu của mục tiêu trung gian phải đo lường được chính xác và nhanh chóng, điều này là cần thiết vì chỉ tiêu trung gian chỉ có ích đối với NHTW nếu nó báo hiệu được tình trạng CSTT nhanh hơn mục tiêu cuối cùng 13 NHTW phải kiểm soát được: vì nếu NHTW không kiểm soát được một chỉ tiêu trung gian, dù biết chỉ tiêu bị lệch hướng thì NHTW cũng không làm gì được, điều này là phản tác dụng và làm cho mọi cố gắng của NHTW trở nên không có mục đích. Có mối liên hệ chặt chẽ đối với mục tiêu cuối cùng: do khả năng ảnh hưởng đến các mục tiêu cuối cùng là rất quan trọng nên chỉ tiêu trung gian phải dự báo được những diễn biến của mục tiêu cuối cùng.
NHTW không thể cùng một lúc tác động cả hai chỉ tiêu trên vì hai chỉ tiêu trên không thể dung hòa với nhau nên NHTW chỉ có thể tác động vào một trong hai. Chỉ tiêu mức cung tiền và chỉ tiêu lãi suất có những mặt ưu nhược điểm riêng như: Lãi suất thị trường là lãi suất danh nghĩa được đo lường nhanh chóng và chính xác nhưng nó không phản ánh đúng lượng phí vay thực tế. Phí vay thực tế (lãi suất thực tế) này được đo lường chính xác hơn bằng cách lấy lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát (ir = I - πe) và lãi suất thực tế thì khó đo lường vì chúng ta khó xác định được lạm phát dự tính. Còn đối với chỉ tiêu tổng lượng tiền cung ứng, việc cố định mức tăng của tổng lượng tiền cho phép lãi suất biến động đáp ứng những thay đổi của tiêu dung và đầu tư mà không xuất phát từ lý do lãi suất, do đó giảm sự biến động của tổng cầu.
Vì thế mục tiêu tổng lượng tiền thích hợp với một nền kinh tế có tổng cầu biến động mạnh bởi các lý do ngoài lãi suất. Thực tế, các nước ưu tiên tăng trưởng sẽ chú trọng mục tiêu trung gian là lãi suất, còn các nước ưu tiên mục tiêu ổn định giá cả sẽ chú trọng mục tiêu trung gian là tổng lượng tiền cung ứng. Mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động bao gồm các chỉ tiêu phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của công cụ CSTT.